IELTS Planet - Học IELTS online

Nghiên cứu về các căn bệnh tâm thần đang được đẩy mạnh – Đọc báo cùng IP

girl-jeans-kid-236215


Researchers have just made some interesting genetic discoveries.

  • Các nhà nghiên cứu vừa khám phá được một số điều thú vị về di truyền.

DISEASES of the psyche have always been slippery things. Schizophrenia, bipolar disorder, major depression and a host of others have no visible markers in the brain. Their symptoms overlap sufficiently that diagnoses may differ between medical practitioners, or even vary over time when given by a single practitioner. In this they are unlike neurological diseases. These either leave organic traces in the brain that, though not always accessible before a patient’s death, are characteristic of the condition in question, or cause recognisable perturbations of things such as electroencephalograms.

  • NHỮNG BỆNH về tâm thần luôn là những thứ không chắc chắn. Bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, bệnh trầm cảm nặng và một loạt những căn bệnh khác đều không có những dấu hiệu có thể nhìn thấy được ở trong bộ não. Các triệu chứng của chúng chồng lấp nhau đủ để các bác sĩ có thể đưa ra các chuẩn đoán khác nhau, hoặc thậm chí sự chẩn đoán này thay đổi theo thời gian khi được đưa ra bởi cùng một bác sĩ. Trong trường hợp này chúng không giống như các bệnh về thần kinh. Những thứ này hoặc là để lại dấu vết liên quan đến các cơ quan trong não, mặc dù không phải lúc nào cũng có thể tiếp cận trước cái chết của bệnh nhân, là đặc điểm của căn bệnh được nói đến, hoặc gây ra những thay đổi nhỏ có thể nhận biết được của những thứ như điện não đồ.

The impulse to categorise, though, is enormous—as witness the ever greater number of conditions identified in successive editions of the Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, published by the American Psychiatric Association. That is because diagnosis and treatment go hand in hand. But if diagnostic categories are misconceived then treatment may be misapplied. In this context a paper published recently in Science, by a group calling itself the Brainstorm Consortium, is helpful. The consortium has brought together many research groups who work on various psychiatric diseases, as well as on neurological diseases, and has run their collective data through the wringer.

  • Tuy nhiên, sự thôi thúc muốn phân loại là rất lớn – như chứng kiến một số lượng lớn hơn các căn bệnh được xác định trong các ấn bản liên tiếp của Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về các căn bệnh rối loạn tâm thần, được xuất bản bởi Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ. Đó là bởi vì việc chẩn đoán và điều trị đi đôi với nhau. Nhưng nếu các loại chẩn đoán bị hiểu sai thì việc điều trị có thể bị áp dụng sai. Trong bối cảnh này một bài nghiên cứu được xuất bản gần đây trong tạp chí Science, bởi một nhóm tự gọi mình là Brainstorm Consortium, rất hữu ích. Hiệp hội này đã tập hợp nhiều nhóm nghiên cứu làm việc trên nhiều bệnh về tâm thần khác nhau, cũng như các bệnh về thần kinh, và đã chạy dữ liệu chung của họ thông qua thử nghiệm.

In particular, the consortium’s researchers have looked at what are known as genome-wide association studies, or GWASs. In these, thousands of genomes are searched in order to identify places where differences between people’s DNA seem associated with the presence or absence of particular diseases or symptoms. Past GWASs, comparing pairs of diseases, have shown overlapping genetic involvement in some psychiatric illnesses. But, by pooling the work of so many groups, the Brainstorm Consortium was able to go beyond this and cross-correlate the putative genetic underpinnings of 25 psychiatric and neurological problems. In all, the consortium looked at 265,218 cases of different brain disorders and 784,643 healthy volunteers who acted as controls.

  • Đặc biệt, các nhà nghiên cứu của hiệp hội đã xem xét những gì được gọi là nghiên cứu tương quan toàn bộ nhiễm sắc thể, hoặc GWAS. Trong đó, hàng ngàn bộ gen được kiểm tra để xác định những nơi mà sự khác biệt giữa DNA của con người dường như liên quan đến sự tồn tại hoặc không tồn tại của các bệnh hoặc triệu chứng cụ thể. Các GWAS trước đây, so sánh các cặp bệnh, đã cho thấy sự tham gia di truyền chồng chéo lên một số bệnh về tâm thần. Nhưng, bằng cách tổng hợp công việc của rất nhiều nhóm, Brainstorm Consortium đã có thể vượt qua điều này và liên hệ chéo với những cơ sở di truyền giả định của 25 vấn đề về tâm thần và thần kinh. Tổng cộng, hiệp hội đã xem xét 265.218 trường hợp rối loạn não khác nhau và 784.643 tình nguyện viên khỏe mạnh làm đối chứng.

Metamorphoses

Of the 25 conditions in question, ten are conventionally classified as psychiatric. Besides schizophrenia, bipolar disorder and major depression, these include obsessive-compulsive disorder, anorexia nervosa and Tourette’s syndrome. Neurological problems, the remaining 15 conditions, include Alzheimer’s disease, Parkinson’s disease, various forms of epilepsy, strokes and migraines.

Những sự biến đổi

  • Trong số 25 căn bệnh được đề cập, mười căn bệnh thường được phân loại là liên quan đến tâm thần. Bên cạnh tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực và trầm cảm nặng, những bệnh liên quan đến tâm thần bao gồm rối loạn ám ảnh cưỡng chế, chán ăn tâm thần và hội chứng Tourette. Các vấn đề về thần kinh, 15 bệnh còn lại, bao gồm bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, các dạng khác nhau của bệnh động kinh, đột quỵ và chứng đau nửa đầu.

There were many underlying genetic correlations between pairs of psychiatric disorders. Assuming these are in part causative of disease, such overlaps go a long way to explaining the slippery nature of psychiatric diagnosis, by providing a genetic explanation for shared symptoms.

  • Có nhiều mối tương quan di truyền căn bản giữa các cặp bệnh rối loạn về tâm thần. Giả sử đây là một phần nguyên nhân của bệnh, sự chồng chéo như vậy sẽ giúp giải thích bản chất không chắc chắn của các chẩn đoán tâm thần, bằng cách cung cấp một giải thích di truyền cho các triệu chứng chung.

There were also, however, observable patterns in the data that might help refine the process of classification. Major depression has at least some positive genetic correlation with each of the other nine conditions. Schizophrenia, bipolar disorder, anxiety disorders and attention-deficit hyperactivity disorder (ADHD) are strongly correlated with one another, as well as with major depression. Anorexia nervosa, obsessive-compulsive disorder and schizophrenia also cluster, as do Tourette’s syndrome and obsessive-compulsive disorder. The only psychiatric illness that showed no significant correlation with the others was post-traumatic-stress disorder.

  • Tuy nhiên, cũng có các mẫu quan sát được trong dữ liệu có thể giúp điều chỉnh quá trình phân loại. Bệnh trầm cảm nặng có ít nhất một số sự tương quan dương về di truyền với mỗi một loại bệnh trong chín loại bệnh còn lại. Tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lo âu và rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) có tương quan chặt chẽ với nhau, cũng như với trầm cảm nặng. Chứng chán ăn tâm thần, rối loạn ám ảnh cưỡng chế và tâm thần phân liệt cũng tạo thành một nhóm, cũng như hội chứng Tourette và chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Bệnh về tâm thần duy nhất cho thấy không có mối tương quan đáng kể với những căn bệnh khác là rối loạn căng thẳng sau chấn thương.

Such clustering was absent from most neurological disorders. In particular, Alzheimer’s disease, Parkinson’s disease, multiple sclerosis and epilepsy all stood independent from each other. Nor, with the exception of migraine, which clustered with Tourette’s, major depression and ADHD, did neurological disorders show much correlation with psychiatric ones. This study therefore confirms genetically the idea that the set of diseases dealt with by psychiatry is indeed distinct from that dealt with by neurology and explains why psychiatric disease is a hydra-headed monster that is difficult to pin down.

  • Sự phân nhóm như vậy không có trong hầu hết các bệnh rối loạn thần kinh. Đặc biệt, bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, bệnh đa xơ cứng và bệnh động kinh đều đứng độc lập với nhau. Với sự ngoại lệ của chứng đau nửa đầu, tạo nhóm với hội chứng Tourette, bệnh trầm cảm nặng và ADHD, các bệnh rối loạn thần kinh không thể hiện nhiều mối liên quan với các bệnh về tâm thần. Do đó, nghiên cứu này xác nhận về mặt di truyền ý tưởng rằng tập hợp các bệnh được xử lý bởi tâm thần học thực sự khác biệt với những bệnh được xử lý bởi thần kinh học và giải thích lý do tại sao bệnh tâm thần là một con quái vật nhiều đầu rất khó để xác định.

Going from the sorts of GWASs on which the consortium relied to an underlying understanding of psychiatric illness will, though, be a long haul. The genetic differences picked out are often things called single-nucleotide polymorphisms (SNPs), which are places in the genome where a lone pair of bases, the chemical letters in which genetic messages are written, can vary between individuals. Frequently, such SNPs are not even in the bits of the genome that directly encode proteins. Rather, they are in what was once called junk DNA, because its function was unknown.

  • Tuy nhiên, đi từ các loại GWAS mà hiệp hội dựa vào đến sự hiểu biết cơ bản về bệnh liên quan đến tâm thần sẽ là một chặng đường dài. Sự khác biệt về di truyền được chọn thường là những thứ được gọi là đa hình đơn nucleotide (SNPs), đó là những vị trí trong bộ gen nơi một cặp bazơ, các chữ cái hóa học trong đó thông điệp di truyền được ghi lại, có thể khác nhau giữa các cá thể. Thông thường, các SNP như vậy thậm chí không nằm trong các bộ phận của bộ gen trực tiếp mã hóa các protein. Thay vào đó, chúng nằm trong cái đã từng được gọi là “DNA rác”, bởi vì chức năng của nó chưa được biết đến.

Recent research suggests that much of the junk serves to regulate when genes are translated into proteins, and how much protein is thus produced. That, in turn, determines how cells grow and what sorts of cell they turn into. With luck, analysing the genetic patterns exposed by studies such as this will eventually point out where to look in the brain’s microanatomy to find whatever miswiring is causing psychiatric disease. For, though that may not be visible at the moment, even the psyche must somehow be manifested physically in the brain and its debilitations must thus be recognisable. When that moment of understanding occurs psychiatry will truly have taken a great leap forward.

  • Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng phần lớn “DNA rác” được dùng cho mục đích điều chỉnh khi gen được dịch mã thành protein và lượng protein được tạo ra như thế nào. Ngược lại, điều đó xác định cách thức tế bào phát triển và loại tế bào mà chúng biến thành. Với sự may mắn, phân tích các mẫu di truyền được khám phá bởi các nghiên cứu như thế này cuối cùng sẽ chỉ ra nơi nào để tìm kiếm trong vi phẫu thuật của não để tìm ra bất cứ điều gì bị sai lệch đang gây ra bệnh liên quan đến tâm thần. Mặc dù điều đó có thể không được nhìn thấy tại thời điểm hiện tại, tâm thần phải bằng cách nào đó được biểu hiện vật lý bên trong não bộ và do đó sự suy giảm của nó phải được nhận biết. Khi khoảnh khắc hiểu biết đó xảy ra tâm thần học sẽ thực sự có một bước tiến lớn.

Vocabulary highlight:


       1. a (whole) host of people/things: (phr) – a large number of people or things (một số lượng lớn người hoặc vật)

Ví dụ:

  • The hotel offers a host of leisure activities.
    (Khách sạn này cung cấp một loạt các hoạt động giải trí.)

       2. medical practitioner: (n) – a physician or surgeon (một bác sĩ hay một bác sĩ phẫu thuật)

Ví dụ:

  • Medical practitioners tend to work long hours.
    (Các bác sĩ có xu hướng làm việc nhiều giờ.)

       3. sb/sth in question: (phr) – the person or thing that is being discussed (người hoặc vật đang được thảo luận)

Ví dụ:

  • The photograph in question was taken long before I met you.
    (Bức ảnh đang được nói đến đã được chụp từ lâu trước khi tôi gặp bạn.)

       4. impulse: (n) – /ˈɪm.pʌls/ – a sudden strong wish to do something (một mong muốn đột ngột mạnh mẽ để làm điều gì đó)

Ví dụ:

  • Jenny felt a sudden impulse to play some music.
    (Jenny cảm thấy một sự thôi thúc bất chợt để chơi một số bản nhạc.)

        5. go hand in hand: (phr) – to happen or exist together (xảy ra hoặc tồn tại cùng nhau)

Ví dụ:

  • Economic success and job creation go hand in hand.
    (Thành công kinh tế và tạo việc làm đi đôi với nhau.)

       6. bring together: (phr) – to create a situation in which people meet and do something together (tạo ra một tình huống mà mọi người gặp gỡ và làm điều gì đó với nhau)

Ví dụ:

  • We brought together researchers from three different universities to work on the project.
    (Chúng tôi đã tập hợp các nhà nghiên cứu từ ba trường đại học khác nhau để thực hiện dự án này.)

       7. pin down: (phr) – to understand or describe something exactly (hiểu hoặc mô tả chính xác điều gì đó)

Ví dụ:

  • We can’t pin down where the leak came from.
    (Chúng tôi không thể xác định nơi sự rò rỉ xuất phát.)

       8. a long haul: (phr) – A difficult task that requires a lot of time and energy to complete (một nhiệm vụ khó khăn đòi hỏi rất nhiều thời gian và năng lượng để hoàn thành.)

Ví dụ:

  • Revitalising the economy will be a long haul.
    (Khôi phục lại nền kinh tế sẽ là một chặng đường dài.)

       9. serve: (v) – /sɝːv/ – to be used for a particular purpose (được sử dụng cho một mục đích cụ thể)

Ví dụ:

  • His death serves to remind us just how dangerous using drugs can be.
    (Cái chết của anh ta được sử dụng để nhắc nhở chúng ta rằng việc sử dụng ma túy có thể nguy hiểm như thế nào.)

       10. manifest: (v) – /ˈmæn.ə.fest/ – to show something clearly, through signs or actions (thể hiện điều gì đó rõ ràng, thông qua các dấu hiệu hoặc hành động)

Ví dụ:

  • The workers chose to manifest their dissatisfaction in a series of strikes.
    (Các công nhân đã chọn thể hiện sự không hài lòng của họ bằng một loạt các cuộc đình công.)

Tới lượt bạn

Hãy học 1o từ vựng này bằng cách đặt câu cho từng từ  hoặc áp dụng vào bài viết IELTS. Các từ mà IP lựa chọn hôm nay đều formal (trừ từ số 6), các bạn có thể dùng trong các bài thi Viết nha!


Người dịch: Hải Nam

Nguồn: The Economist

July 5, 2018

0 responses on "Nghiên cứu về các căn bệnh tâm thần đang được đẩy mạnh - Đọc báo cùng IP"

Leave a Message

IELTS Planet - Học IELTS online 2016