IELTS Planet - Học IELTS online

Các nước giàu cần sự tăng trưởng tiền lương thực tế cao hơn – Đọc báo cùng IP

american-bills-business-259130


Pay is rising, but so are prices. Blame more expensive oil

CENTRAL bankers and economists have spilled much ink in recent years on the question of why wages have not grown more. The average unemployment rate in advanced economies is 5.3%, lower than before the financial crisis. Yet even in America, the hottest rich-world economy, pay is growing by less than 3% annually. This month the European Central Bank devoted much of its annual shindig in Sintra, Portugal to discussing the wage puzzle.

Tiền lương đang tăng, nhưng giá cả cũng vậy. Điều này được đổ lỗi cho giá dầu cao hơn

  • Các giám đốc ngân hàng trung ương và các nhà kinh tế đã tốn rất nhiều bút mực trong những năm gần đây về câu hỏi tại sao lương không tăng thêm. Tỷ lệ thất nghiệp trung bình ở các nền kinh tế tiên tiến là 5,3%, thấp hơn so với trước khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, ngay cả ở Mỹ, nền kinh tế giàu nhất thế giới, tiền lương đang tăng ít hơn 3% mỗi năm. Trong tháng này Ngân hàng Trung ương châu Âu dành phần lớn cuộc tranh luận hàng năm tại Sintra, Bồ Đào Nha để thảo luận về vấn đề tiền lương.

Recent data show, however, that the problem rich countries face is not that nominal wage growth has failed to respond to economic conditions. It is that inflation is eating up pay increases and that real—that is, inflation-adjusted— wages are therefore stagnant. Real wages in America and the euro zone, for example, are growing more slowly even as the world economy, and headline pay, have both picked up (see chart).

  • Tuy nhiên, dữ liệu gần đây cho thấy vấn đề mà các quốc gia giàu có phải đối mặt không phải là sự tăng trưởng lương danh nghĩa đã không đáp ứng được các điều kiện kinh tế. Đó là lạm phát đang lấy đi phần lớn sự tăng tiền lương và do đó tiền lương thực tế – tức là, loại tiền lương đã được điều chỉnh lạm phát – không tăng trưởng. Ví dụ, tiền lương thực tế ở Mỹ và khu vực sử dụng đồng euro đang tăng trưởng chậm hơn ngay cả khi nền kinh tế thế giới, và tiền lương chung, đều đã tăng trưởng (xem biểu đồ).

The proximate cause is the oil price. As the price of Brent crude oil, a benchmark, fell from over $110 a barrel in mid-2014 to under $30 a barrel by January 2016, inflation tumbled, even turning negative in Europe. That sparked justified worries about a global deflationary slump. But it was an immediate boon for workers, who saw nominal pay increases of around 2% translate into real wage gains of about the same size. (An exception was Japan, where a rise in the sales tax from 5% to 8% in 2014 squeezed wallets.)

  • Nguyên nhân trực tiếp là do giá dầu. Khi giá dầu thô Brent, một tiêu chuẩn về giá dầu, giảm từ trên 110 đô la một thùng vào giữa năm 2014 xuống dưới 30 đô la một thùng vào tháng 1 năm 2016, lạm phát đã giảm nhanh, thậm chí là âm ở châu Âu. Điều đó đã gây ra những lo ngại chính đáng về sự sụt giảm về giảm phát toàn cầu. Nhưng nó là một lợi ích ngay trước mắt cho người lao động, những người đã thấy sự tăng tiền lương danh nghĩa khoảng 2% chuyển thành sự tăng tiền lương thực tế của cùng một quy mô. (Một ngoại lệ là Nhật Bản, nơi có một sự tăng trong thuế bán lẻ từ 5% lên 8% trong chính sách thắt chặt chi tiêu năm 2014).

Since then, nominal wage growth has gradually picked up as labour markets have tightened, roughly in line with the predictions of economists who use broader measures of slack than just the unemployment rate. But inflation has risen in tandem with wages, as the oil price has recovered to close to $75 a barrel. That means many workers are yet to feel the benefit of the global economic upswing that began during 2017. In America and Europe, real wages are growing barely faster than they were five years ago, when unemployment was much higher.

  • Kể từ đó, sự tăng trưởng lương danh nghĩa đã tăng một cách từ từ khi thị trường lao động đã bị thắt chặt, gần như phù hợp với những dự đoán của các nhà kinh tế sử dụng các thước đo rộng hơn về nguồn lao động chưa sử dụng hơn là chỉ với tỷ lệ thất nghiệp. Nhưng lạm phát đã tăng lên song song với tiền lương, khi giá dầu đã phục hồi đến gần 75 đô la một thùng. Điều đó có nghĩa là nhiều công nhân vẫn chưa cảm nhận được lợi ích của việc tăng trưởng kinh tế toàn cầu bắt đầu trong năm 2017. Ở Mỹ và châu Âu, tiền lương thực tế chỉ tăng nhanh hơn năm năm trước, khi tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nhiều.

In the long run, changes in real wages are linked to changes in workers’ productivity, which has grown slowly everywhere since the financial crisis. In the year to the first quarter of 2018, for example, American productivity grew by only 0.4%. But some spy a rebound. For current forecasts of blazing economic growth in America to bear out, productivity must grow faster. In the second half of 2017, productivity in Britain grew at the fastest rate since 2005. The Bank of Japan thinks that firms there are investing heavily to boost productivity so that they do not have to pay for higher wages by raising prices.

  • Về lâu dài, những thay đổi về tiền lương thực tế có liên quan đến những thay đổi về năng suất của người lao động, điều đã tăng một cách chậm chạp ở khắp mọi nơi kể từ cuộc khủng hoảng tài chính. Ví dụ, trong quý đầu tiên của năm 2018 năng suất của Mỹ chỉ tăng 0,4%. Nhưng một số nơi thấy được sự phục hồi. Để cho các dự báo hiện tại về tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở Mỹ có được sự ủng hộ, năng suất phải tăng nhanh hơn. Trong nửa cuối năm 2017, năng suất ở Anh tăng trưởng nhanh nhất kể từ năm 2005. Ngân hàng Nhật Bản cho rằng các công ty đang đầu tư mạnh để tăng năng suất để mà họ không phải trả tiền lương cao hơn bằng cách tăng giá.

Yet even a recovery in productivity would not guarantee good times for workers. In recent decades the share of GDP going to labour, rather than to capital, has fallen because real pay has increased more slowly than productivity. In advanced economies labour’s share fell from almost 55% to about 51% between 1970 and 2015, according to researchers at the IMF. A widely heard explanation is that a fall in union membership, combined with rising offshoring and outsourcing, has eroded workers’ bargaining power. More recently, economists have suggested that labour’s falling share could be linked to the rise of “superstar” firms such as Google that dominate their markets and have low labour costs relative to their enormous profits.

  • Tuy nhiên, ngay cả một sự phục hồi trong năng suất sẽ không đảm bảo giai đoạn tốt cho người lao động. Trong những thập kỷ gần đây, tỷ trọng GDP chuyển sang lao động, thay vì vốn, đã giảm vì tiền lương thực tế đã tăng chậm hơn so với năng suất. Ở các nền kinh tế tiên tiến, tỷ lệ lao động giảm từ 55% xuống khoảng 51% trong giai đoạn 1970-2015, theo các nhà nghiên cứu tại IMF. Một lời giải thích được nghe rộng rãi là một sự sụt giảm trong tư cách thành viên công đoàn, kết hợp với việc tăng sự thuê ngoài trong và ngoài nước, đã làm giảm dần sức mạnh thương lượng của người lao động. Gần đây hơn, các nhà kinh tế đã gợi ý rằng tỷ lệ giảm của lao động có thể liên quan đến sự nổi lên của các công ty “siêu sao” như Google thống trị thị trường và có chi phí nhân công thấp so với lợi nhuận khổng lồ của họ.

Reversing the fall in labour’s share of GDP would require real wages to grow faster than productivity, weighing on firms’ profit margins. Continued tightening in labour markets might yet boost workers’ bargaining power enough for that to happen, as was the case during the late 1990s and late 2000s, two unusual periods in which labour’s share of GDP rose across the rich world. There is still room for improvement. For instance, even where unemployment rates are low, the number of part-time workers who want full-time jobs remains unusually high. This continues to weigh on wage growth, according to an analysis by the IMF late last year.

  • Việc đảo ngược sự giảm về tỷ lệ lao động trong GDP sẽ đòi hỏi tiền lương thực tế tăng nhanh hơn năng suất, cái mà đè nặng lên biên lợi nhuận của công ty. Sự thắt chặt liên tục trong thị trường lao động có thể tăng sức mạnh thương lượng của người lao động đủ để điều đó xảy ra, như trường hợp trong cuối những năm 1990 và cuối những năm 2000, hai giai đoạn bất thường trong đó tỷ lệ lao động trong GDP tăng trong các quốc gia giàu có. Vẫn còn chỗ cho sự cải thiện. Ví dụ, ngay cả những nơi tỷ lệ thất nghiệp thấp, số lượng công nhân làm bán thời gian muốn có công việc toàn thời gian vẫn cao bất thường. Điều này tiếp tục đè nặng lên sự tăng trưởng tiền lương, theo một phân tích của IMF vào cuối năm ngoái.

Some countries, such as Italy, still suffer from unemployment rates that are far higher than they were before the financial crisis. Such pockets of slack might constrain wages everywhere now that goods are produced in international supply chains and sold on global markets. In a recent working paper, Kristin Forbes of the Massachusetts Institute of Technology concluded that the influence on inflation of global slack and commodity prices has grown in the past decade, while local economic conditions have become less important. Philip Lowe, the governor of Australia’s central bank, told the audience in Sintra that when he asks firms that are struggling to find workers why they do not pay more, they “look at me as if I’m completely mad” and deliver a lecture on how competitive the world has become.

  • Một số quốc gia, như Ý, vẫn chịu tỷ lệ thất nghiệp cao hơn rất nhiều so với trước cuộc khủng hoảng tài chính. Những nguồn lao động chưa được tận dụng này có thể hạn chế tiền lương ở khắp mọi nơi khi hàng hóa được sản xuất trong chuỗi cung ứng quốc tế và được bán trên thị trường toàn cầu. Trong một báo cáo gần đây, Kristin Forbes thuộc Viện Công nghệ Massachusetts đã kết luận rằng sự ảnh hưởng lên lạm phát của nguồn lao động chưa được sử dụng toàn cầu và giá cả hàng hóa đã tăng lên trong thập kỷ qua, trong khi những điều kiện kinh tế địa phương trở nên ít quan trọng hơn. Philip Lowe, thống đốc ngân hàng trung ương của Úc, nói với những người tham gia hội nghị ở Sintra rằng khi ông ấy hỏi các công ty đang chật vật để tìm những người công nhân tại sao họ không trả nhiều tiền hơn, họ “nhìn tôi như thể tôi hoàn toàn điên khùng” và thuyết trình về mức độ cạnh tranh của thế giới đã trở nên như thế nào.

If slack were eliminated everywhere, pay might rise faster. The question is whether inflation continues to rise in tandem as companies find that, when push comes to shove, they can pass higher costs onto their customers. If they can, there is little hope for much improving workers’ lot in real terms. The Federal Reserve has been raising interest rates in response to a perceived inflationary threat. The European Central Bank, too, is tightening, saying that it will probably stop asset purchases at the end of the year. Mario Draghi, its president, points to growth in hourly pay of 1.8% as a justification for the move.

  • Nếu nguồn lao động chưa được tận dụng đã được loại bỏ ở khắp mọi nơi, tiền lương có thể tăng nhanh hơn. Câu hỏi đặt ra là liệu lạm phát có tiếp tục gia tăng song song với tiền lương khi các công ty nhận thấy rằng, khi phải đưa ra quyết định khó khăn này, họ có thể chuyển chi phí cao hơn cho khách hàng của họ. Nếu họ có thể, có rất ít hy vọng cho việc cải thiện chất lượng cuộc sống của công nhân trong thực tế. Cục Dự trữ Liên bang đã tăng lãi suất để đối phó với một mối đe dọa lạm phát được nhận thức. Ngân hàng Trung ương châu Âu cũng đang thắt chặt, nói rằng họ có thể sẽ ngừng mua tài sản vào cuối năm nay. Mario Draghi, chủ tịch của Ngân hàng Trung ương châu Âu, chỉ ra sự tăng trưởng mức lương theo giờ là 1,8% như một lý do chính đáng cho sự thay đổi này.

That seems a little hasty, given workers’ lamentable fortunes in recent decades. But hawks think there is little room to boost real wages by running labour markets hotter. If they are proved right, it will be hard to refute the argument that structural changes in the economy, rather than weak demand alone, have stacked the deck against workers. Governments will then have to find novel ways to respond—or hope for another crash in the oil price.

  • Điều đó có vẻ hơi nóng vội, căn cứ vào những điều tồi tệ xảy ra trong cuộc sống của người lao động trong những thập kỷ gần đây. Nhưng những người ủng hộ chính sách thắt chặt của nền kinh tế nghĩ rằng có rất ít cơ hội để tăng tiền lương thực tế bằng cách làm cho thị trường lao động nóng hơn. Nếu chúng được chứng minh là đúng, sẽ rất khó để bác bỏ lập luận rằng những thay đổi về cấu trúc trong nền kinh tế, thay vì chỉ một mình nhu cầu yếu, đã được dàn xếp để chống lại các công nhân. Các chính phủ sau đó sẽ phải tìm những cách mới để đối phó lại – hoặc hy vọng về một sự giảm đột ngột khác trong giá dầu.

Vocabulary highlight:


       1. puzzle: (n) – /ˈpʌz.əl/ – something that is difficult to understand or explain (một cái gì đó khó hiểu hoặc khó giải thích)

Ví dụ:

  • Scientists have been trying to solve this puzzle for years.
    (Các nhà khoa học đã cố gắng giải quyết vấn đề nan giải này trong nhiều năm.)

       2. eat up sth: (phr) – to use or take away a large part of something valuable (sử dụng hoặc lấy đi một phần lớn của một thứ có giá trị)

Ví dụ:

  • A big old car like that eats up petrol.
    (Một chiếc xe cũ lớn như thế tiêu thụ gần hết xăng.)

       3. pick up: (phr) – to increase or improve (tăng lên hoặc cải thiện)

Ví dụ:

  • Her career only began to pick up when she was in her forties.
    (Sự nghiệp của cô ấy chỉ bắt đầu thăng tiến khi cô ấy ở độ tuổi bốn mươi.)

       4. proximate cause: (n) – something that is considered to be the direct cause of damage, loss, or injury (một cái gì đó được coi là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại, mất mát hoặc thương tích)

Ví dụ:

  • The proximate cause of the disaster was a piece of metal lying on the runway.
    (Nguyên nhân trực tiếp của thảm họa là một mảnh kim loại nằm trên đường băng.)

      5. spark: (v) – to cause the start of something, especially an argument or fighting (để gây ra sự khởi đầu của một cái gì đó, đặc biệt là một cuộc tranh luận hoặc một cuộc chiến đấu)

Ví dụ:

  • This proposal will almost certainly spark another countrywide debate about immigration.
    (Đề xuất này gần như chắc chắn sẽ gây ra một cuộc tranh luận khác trên toàn quốc về nhập cư.)

       6. boon: (n) – /buːn/ – something that is very helpful and improves the quality of life (một cái gì đó rất hữu ích và cải thiện chất lượng cuộc sống)

Ví dụ:

  • Guide dogs are a great boon to the partially sighted.
    (Những chú chó dẫn đường là một ân huệ tuyệt vời cho người khiếm thị một phần.)

       7. in line with sth: (phr) – similar to, or at the same level as something (tương tự, hoặc ở cùng mức độ với cái gì đó)

Ví dụ:

  • We’re seeking a pay rise that’s in line with inflation.
    (Chúng tôi đang tìm kiếm sự tăng tiền lương phù hợp với lạm phát.)

       8. erode: (v) – /ɪˈroʊd/ – to slowly reduce or destroy something (từ từ giảm bớt hoặc phá hủy một cái gì đó)

Ví dụ:

  • Repeated exam failure had eroded her confidence.
    (Thất bại trong kỳ thi lặp đi lặp lại đã làm giảm dần sự tự tin của cô ấy.)

       9. stack the deck (against someone/something): (phr) – to arrange something so that the results are unfair (để sắp xếp thứ gì đó để kết quả không công bằng)

Ví dụ:

  • By dating the boss’s daughter, Jeremy has stacked the deck against the rest of us for an early promotion.
    (Bằng cách hẹn hò với con gái của ông chủ, Jeremy đã dàn xếp chống lại chúng tôi để được thăng chức sớm.)

       10. novel: (adj) – /ˈnɑː.vəl/ – new and original, not like anything seen before (mới và nguyên bản, không giống như bất cứ điều gì đã thấy trước đây)

Ví dụ:

  • Keeping a sheep in the garden is a novel way of keeping the grass short!
    (Giữ một con cừu trong một mảnh vườn là một cách mới để giữ cho cỏ thấp!)

Tới lượt bạn

Hãy học 10 từ vựng này bằng cách đặt câu cho từng từ  hoặc áp dụng vào bài viết IELTS. Các từ mà IP lựa chọn hôm nay đều khá formal , các bạn có thể dùng trong các bài thi Viết nha!


Người dịch: Hải Nam

Nguồn: The Economist

July 12, 2018

0 responses on "Các nước giàu cần sự tăng trưởng tiền lương thực tế cao hơn - Đọc báo cùng IP"

Leave a Message

IELTS Planet - Học IELTS online 2016