IELTS Planet - Học IELTS online

Ngày thứ Sáu đen tối không dành cho tôi – Đọc báo cùng IP

action-book-books-261859


We don’t need to jump on the festive treadmill and pretend we’re having a good time

  • Chúng ta không cần phải nhảy lên guồng quay của lễ hội và giả vờ rằng chúng ta đang vui vẻ.

The comedian Bill Bailey once told me about his favourite Christmas. He and his family headed off to a sunny island where, on Christmas Day, they ate jam sandwiches and played on the beach. Bailey didn’t have a name for his rebellion against the 57 varieties of A Christmas Carol, the Christ-awful seasonal dishes, tinsel and the craving for something at 11am on 25 December to obliterate the pervading sense of buyers’ remorse. But now we do. What Bailey felt, even as sand got into his beard and lunch, was Jomo, the Joy of Missing Out. It is the antidote to the curse of our age: Fomo, the Fear of Missing Out.

  • Danh hài Bill Bailey đã từng kể với tôi về lễ Giáng sinh yêu thích của ông. Ông và gia đình đi đến một hòn đảo đầy nắng nơi mà trong ngày Giáng sinh, họ ăn bánh kẹp thịt nguội và chơi trên bờ biển. Bailey không chống lại 57 phiên bản khác nhau của Bài Ca Giáng Sinh, những món ăn tệ hại của mùa giáng sinh, kim tuyến lấp lánh hay sự thèm thuồng một cái gì đó vào 11 giờ trưa ngày 25 tháng 12 để xóa đi cái cảm giác tội lỗi của con nghiện mua sắm đang tràn ngập trong không gian. Nhưng bây giờ chúng ta lại gặp phải nó. Những gì Bailey đã cảm thấy, thậm chí khi cát tràn ngập vào trong giày hay hàm râu và bữa ăn của ông ta, là JOMO, niềm hạnh phúc khi được bỏ lỡ. Đó là một liều kháng sinh cho lời nguyền của thời đại của chúng ta: FOMO, sự sợ hãi khi bị bỏ lỡ.

Fomo rises exponentially from now to the end of the year, as we begin our descent via the hellish portal of Black Friday towards the moment we celebrate what – be still, irony – turns out not to have been the birthday of Our Lord. The society-wide pressure, always intense throughout the year, is to achieve what we assume everybody else is experiencing – perfect happiness in the bosom of our families, ideally with our brats thrilled that Santa’s bought them the evident piece of junk that retailers are touting as this Yuletide’s must-have, namely Poopsie Unicorn Slime Surprise (£49.99). Guess what the surprise of the Poopsie Unicorn Slime Surprise is? Magical multicoloured poop comes out of the unicorn’s bottom. I don’t know if toy unicorn faeces can be composted, but it’s unlikely. If that’s the best we can manage to celebrate Christmas, heaven knows it’s no wonder we’re miserable now.

  • Sự sợ hãi vì bị bỏ lỡ lớn nhanh từ giờ đến cuối năm, khi chúng ta bắt đầu cuộc hạ cánh từ cánh cổng địa ngục của ngày thứ sáu đen tối đến thời điểm chúng ta chúc mừng, thật nực cười khi nó không phải là sinh thần chúa tể của ta. Áp lực khắp xã hội, luôn mạnh mẽ suốt năm, là để đạt được cái mà chúng ta cho rằng mọi người đang trải nghiệm – hạnh phúc hoàn hảo trong linh hồn của gia đình, lý tưởng với đám bạn của ta rằng ta đang hạnh phúc với một mảnh rác rành rành mà ông già Noel đang đến; rằng những nhà bán lẻ đang chào hàng như kiểu Noel năm nay bạn phải có nó, cụ thể là Slime ngựa một sừng ngạc nhiên Poopsie (£49.99). Hãy đoán thử nó là gì? Một bãi cứt nhiệm màu cầu vồng “phọt” ra từ mông con ngựa. Tôi không biết phân ngựa có phân hủy được hay không, nhưng chắc là không đâu. Nếu đó là thứ tuyệt nhất mà chúng ta có thể có vào dịp Giáng Sinh, chỉ có trời biết chúng ta đang khổ sở đến mức nào.  

For we are miserable in the age of Fomo. Is there anything more miserable than trolling through your friends’ Instagram to torment yourselves over the fact that you didn’t holiday in Martha’s Vineyard, have smug-looking, beautiful children or teeth whitened on Harley Street? Of course there is, but park that thought. Even though, most likely, those Instagram images are works of familial performance art, as true to what happened as Stalin’s airbrushed snaps with his murdered colleagues. For what is axiomatic in our world of Fomo is that everybody looks like they’re having a better time than you, even when they’re not.

  • Đối với những người như ta – đang đau khổ trong thời khắc sợ hãi vì bị bỏ lỡ. Không còn gì đau khổ hơn việc lướt qua Instagram của bạn mình để tra tấn bản thân rằng mình chẳng có kì nghỉ ở Vườn Martha, có một vẻ ngoài đẹp mã, những đứa con xinh đep hoặc hàm răng trắng ở đường Harley? Tất nhiên là có thể, nhưng chỉ là trong suy nghĩ của bạn. Mặc dù, hầu như những hình ảnh trên Instagram là tác phẩm nghệ thuật, điều này giống với những bức hình bị xóa của Stalin với những người cộng sự bị ông sát hại. Điều không thể chối cãi với thế giới của những người sợ hãi vì bị bỏ lỡ là mọi người luôn có vẻ như có cuộc sống tốt hơn bạn, thậm chí khi họ chẳng thế.

Take the ad starring Martin Freeman for a mobile phone company. His train carriage is filled with boneheads staring into their handsets; even in the loo he finds the guard furtively watching something on his phone when he should be checking tickets. “What is wrong with you!” Freeman yells. And then a beat, before he realises that what’s wrong is him. He doesn’t have a two-year data deal to get unmissable TV, music, movies and sport promised in the voiceover. Freeman winces – and there it is, Fomo in the face.

  • Hãy lấy ví dụ là một quảng cáo của Martin Freeman cho một công ty điện thoại. Chuyến tàu điện ngầm mà ông ta đi toàn những  tên ngốc cứ cắm mặt vào thiết bị di động của họ; thậm chí trên hành lang, ông ta còn thấy người bảo vệ đang lén lút xem điện thoại trong ông ta phải đang soát vé.” Chuyện gì xảy ra với ông vậy!” Freeman la lên. Và trong một khắc, trước khi ông ta nhận ra chuyện gì đang xảy ra với ông. Martin không có thỏa thuận hai năm để có 2 năm thỏa thuận quá hời cho TV, nhạc, phim và thể thao được hứa hẹn trong loa phát thanh. Mặt Freeman nhăn lại – cái biểu cảm sợ hãi vì bị bỏ lỡ xuất hiện trên mặt.

Like the adjective “must have”, unmissable is one of those weasel words of the Fomo age designed to make you panic into buying things that prove eminently missable by the time the payment has cleared. A recent study by academics in the UK and US defined Fomo as “the uneasy and sometimes all-consuming feeling that you’re missing out – that your peers are doing, in the know about, or in possession of more or something better than you” and argued that nearly three quarters of young adults reported experiencing the phenomenon.

  • Như tính từ  “phải có”, hời là một trong những từ lừa lọc của thời đại Sợ hãi vì bị bỏ lỡ; nó được thiết kế để làm bạn cảm thấy khủng hoảng rằng bạn phải mua thứ được chứng minh là rất hời ngay thời gian bạn đặt mua nó. Một nghiên cứu gần đây bởi các học viện ở Anh và Mỹ định nghĩa ” sợ hãi vì bị bỏ lỡ” là một một cảm giác khó chịu và nhiều lúc làm bạn kiệt sức rằng bạn đang bỏ lỡ điều mà người cùng trang lứa đang làm, hoặc là kiến thức, hoặc là sự sỡ hữu của thứ gì nhiều hơn hoặc tốt hơn bạn” và kết luận rằng 3/4 những người trẻ nói rằng họ đang gặp phải hiện tượng đó.

It’s easy to blame Mark Zuckerberg for making this situation worse and for every other first-world problem, but that won’t stop me. In the case of Fomo he has clearly made things worse. How? Think of multicoloured unicorn faeces for one last time. Ideally, that thrill your kids feel on getting this year’s must-have Christmas present can be experienced by you if you post pictures on Facebook of them manufacturing poop with their new toy.

  • Rất dễ để đổ cho Mark Zuckerberg làm cho tình hình này tệ hại hơn và cho những vấn đề nhức nhối hiện nay, nhưng điều đó sẽ không ngăn tôi lại. Trong trường hợp này, rõ ràng Mark đã làm cho tình hình trở nên tệ hơn. Như thế nào? Hãy nghĩ về đống phân nhiều màu của con ngựa một sừng một lần cuối. Theo lý tưởng thì nó sẽ làm cho các đứa trẻ của bạn thích thú khi nhận được món quà phải có dịp trong dịp Giáng Sinh, và bạn cũng có thể có được cảm giác đó bằng cách đăng những tấm hình về chúng đang “sản xuất” phân với món đồ chơi mới của chúng lên Facebook.

This is how social media weaponises our experiences, escalating the continuing war to make your friends miserable – a war that we started because we believe that only by increasing others’ misery can we be happy. It’s not enough that we enjoy jam sandwiches on the beach, we need others to be made miserable by shoving our jam-related joy down their virtual throats. And so we continue on the Sisyphean hedonic treadmill, never quite getting where we want to be. Everywhere we turn we are encouraged to experience as much as possible, for as long as possible, in as many ways as possible.

  •  Đây là cách mạng xã hội làm cho trải nghiệm của bạn trở thành một món vũ khí, làm tăng dần cảm giác muốn gây ra cuộc chiến tranh khiến cho bạn mình khổ sở – một cuộc chiến mà chúng ta gây ra bởi vì chúng ta tin rằng chỉ bằng cách làm cho người khác đau khổ mới khiến ta hạnh phúc. VIệc ăn bánh mì trên bãi biển không đủ để chúng ta hài lòng, chúng ta cần những người khác cảm thấy khổ sở bằng cách xúc những niềm vui “thịt nguội” của ta xuống cổ họng ảo của họ. Để chúng ta có thể tiếp tục trên cái guồng quay cảm xúc bất tận, không dẫn ta đi tới nơi ta muốn. Mọi nơi chúng ta có mặt, chúng ta được cổ vũ để trải nghiệm nhiều nhất có thể, dài nhất có thể, bằng nhiều cách nhất có thể.  

What’s the answer apart from coming off social media and not buying evident rubbish? Can jam sandwiches on the beach really be the answer? Perhaps not. Jomo can become a luxury product, consumable only by the fortunate. A former Guardian literary editor, someone with impeccable leftwing credentials, once told me that they always left Christendom for Christmas. Which, however you look at it, involves a long-haul flight and thus quite a surprisingly large disposable income.

  • Một đáp án nào khác ngoài việc bỏ mạng xã hội và không mua những thứ rác rưởi đang hiện hữu? Bánh mì thịt nguội trên bãi biển có phải là đáp án? Có lẽ không. Cảm giác vui vẻ vì được bỏ lỡ có thể là một sản phẩm xa xỉ, chỉ có thể tiêu thụ bởi những người may mắn. Một biên tập viên học vấn tiền nhiệm của báo Guardian, một người với những bằng cấp sáng loáng của cánh Tả, đã từng nói với tôi rằng họ luôn rời khỏi chỗ làm khi Giáng sinh đến. Mà, nếu bạn nhìn vào nó, thì đó là một chuyến máy bay dài và tốn một khoản lớn tiền thu nhập.

And there’s another problem. Sometimes Jomo collapses into Faux Jomo. By that I mean, as a response to the ubiquity of Fomo one virtue signals one’s escape from the prevailing toxic order in which everybody is mired in the fear of missing out. If, for instance, Bill Bailey had posted his Christmas pictures online, he wouldn’t really be motivated to share his joy, but rather to make miserable those looking at their phones as they fell into post-Queen’s speech stupefaction.

  • Và có một vấn đề khác. Thỉnh thoảng, niềm vui khi được bỏ lỡ trở thành một cảm giác giả. Điều tôi muốn nói là, như một phản ứng lại sự phổ biến của “nỗi sợ khi bị bỏ lỡ”; cho thấy sự trốn thoát khỏi một chỉ dẫn độc hại đang thắng thế mà mọi người bị sa vào nỗi sợ bị bỏ lỡ. Nếu, ví dụ như, Bill Bailey đã đăng những tấm ảnh Giáng Sinh lên mạng, ông ấy thật sự không cảm thấy có động lực khi chia sẻ niềm vui của mình, nhưng hơn cả là làm những kẻ đang nhìn vào màn hình điện thoại trở nên đau khổ khi họ bị rơi vào sửng sốt vì bài nói của Nữ Hoàng.

Unhelpfully, there’s a book coming out called The Joy of Missing Out: The Art of Self-Restraint in an Age of Excess by Danish psychology professor Sven Brinkmann, offering suggestions on how to do things better. Why unhelpfully, you ask? Because it’s being published in February, when it’ll be too late to do anything about the rest of 2018.

  • Vô dụng thay, có một quyển sách được xuất bản tên là “Niềm vui khi được bỏ lỡ”: Nghệ thuật của sự tự kiềm chế trong Thời kì Quá Độ bởi một giáo sư tâm lý học người Đan Mạch Sven Brinkmann, đưa ra một vài gợi ý rằng làm thế nào để biến mọi thứ trở nên tốt hơn. Tại sao vô dụng, nếu bạn có thắc mắc? Bởi vì nó được xuất bản vào tháng 2, khi nó quá trễ để có thể làm bất cứ điều gì cho những ngày còn lại của năm 2018.

Stuart Jeffries is a freelance feature writer

  • Stuart Jeffries là một tác giả tự do.

Vocabulary highlight


       1. head off (phrasal verb):  to start a journey or leave a place: bắt đầu một hành trình hoặc rời khỏi nơi nào.

Ví dụ:

  • What time are you heading off?
    (Chừng nào bạn sẽ rời khỏi)

       2. pervade (v) /pəˈveɪd/ When qualities, characteristics, or smells pervade a place or thing, they spread through it and are present in every part of it: (khi những tố chất, đặc trưng hoặc mùi hương xâm nhập một nơi nào đó, chúng lan tỏa và hiện diện ở mỗi ngõ ngách.)

Ví dụ:

  • The film movie is a reflection of the violence that pervades our culture.
    (Bộ phim là một sự phản chiếu lại rằng bạo lực đang xâm lấn nền văn hóa của chúng ta)

       3. obliterate /əˈblɪt.ər.eɪt/  to remove all signs of something, either by destroying it or by covering it so that it cannot be seen: (xóa bỏ mọi dấu hiệu của một cái gì đó, bằng cách phá hủy nó hoặc che đậy để nó không thể bị thấy)

Ví dụ:

  • The missile strike was devastating – the target was totally obliterated.
    (Cuộc tấn công tên lửa thật kinh khủng – mục tiêu hoàn toàn bị tiêu diệt.)

       4. torment (n) /tɔrˈment/ great mental or physical suffering, or something that causes such pain: (chịu đựng về mặt tinh thần hoặc thể xác rất lớn)

Ví dụ:

  • The animals are tormented mercilessly by flies and mosquitoes.
    (Nhiều động vật bị hành hạ không thương tiếc bởi ruồi và muỗi.)

       5. axiomatic (adj) /ˌæk.si.əˈmæt.ɪk/ obviously true and therefore not needing to be proved: (hoàn toàn đúng và không cần chứng minh)

Ví dụ:

  • It is an axiomatic fact that governments rise and fall on the state of the economy.
    (Một sự thật hiển nhiên là chính phủ nổi lên hoặc chìm xuống dựa vào tình trạng của nền kinh tế.)

       6. unmissable (adj) /ʌnˈmɪs.ə.bəl/ An unmissable film, play, etc. is so good that it must be seen: (không thể bỏ lỡ)

Ví dụ:

  • Critics are describing the musical as “unmissable”.
    (Các nhà phê bình miêu tả nhạc kịch là không thể bỏ lỡ.)

        7. wince (v) /wɪns/ to show pain suddenly and for a short time in the face, often moving the head back at the same time: (thể hiện nỗi đau trong một khoảnh khắc ngắn trên mặt, thường rụt đầu cùng lúc)

Ví dụ:

  • Did I hurt you? – I thought I saw you wince.
    (Tôi có làm đau bạn không? – Tôi thấy bạn nhăn mày.)

       8. eminently /ˈem.ɪ.nənt.li/ very and obviously: (rất rõ ràng, lỗi lạc)

Ví dụ:

  • He is eminently qualified for the job.
    (Anh ấy rõ ràng có năng lực cho công việc này.)

       9. impeccable /ɪmˈpek.ə.bəl/ perfect, with no problems or bad parts: (hoàn hảo, không có vấn đề hay phần lỗi)

Ví dụ:

  • impeccable taste/manners/credentials
    (vị giác/ tác phong/ bằng cấp hoàn hảo)

       10. prevail /prɪˈveɪl/ to exist and be accepted among a large number of people, or to get a position of control and influence: (xuất hiện và được chấp nhận bởi phần đông, hoặc nhận một vị trí kiểm soát và có tầm ảnh hưởng)

Ví dụ:

  • Let’s hope that common sense prevails.
    (Hãy hi vọng rằng lẽ thường sẽ thắng thế.)

Người dịch: Mỹ An

Nguồn: theguardian.com

Tháng Mười Hai 14, 2018

0 responses on "Ngày thứ Sáu đen tối không dành cho tôi - Đọc báo cùng IP"

Để lại lời nhắn

IELTS Planet - Học IELTS online 2019