Các trường học có điều kiện khó khăn không cần lớp học nhỏ hơn – họ cần giáo viên giỏi hơn – Đọc báo cùng IP

roman-kraft-260082


Great teachers have a huge impact on kids. Research has shown that students with highly effective teachers (those in the 90th percentile) learn 1.5 years’ worth of material in a year, while students with teachers in the 10th percentile learn just half a years’ worth of material in the same period. “No other attribute of schools comes close to having this much influence on student achievement,” Eric Hanushek, an economist at Stanford University, told the Economist.

  • Các giáo viên giỏi có tác động rất lớn đối với trẻ em. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những học sinh có giáo viên có năng lực cao (những người trong nhóm 90%) học được tài liệu dùng cho 1,5 năm trong một năm, trong khi đó các học sinh với giáo viên nằm trong 10% còn lại chỉ học được tài liệu dùng cho nửa năm trong cùng khoảng thời gian. Eric Hanushek, một nhà kinh tế học tại Đại học Stanford, nói với tờ Economist: “Không một thuộc tính nào khác của trường học gần như có ảnh hưởng lớn đến thành tích của học sinh như vậy.”

The students who stand to benefit the most from the most effective teachers are those in disadvantaged schools. But a new report from the OECD finds that in many countries, including France, the Netherlands and the US, just the opposite is happening: Disadvantaged schools have less qualified or less experienced teachers, compared to advantaged schools. Instead, many of these countries attempt to address inequity by creating smaller classes or lower student-teacher ratios for worse-off schools.

  • Những học sinh có thể được hưởng lợi nhiều nhất từ các giáo viên có năng lực nhất là những học sinh ở các trường có điều kiện khó khăn. Nhưng một báo cáo mới từ OECD nhận thấy rằng ở nhiều nước, bao gồm Pháp, Hà Lan và Hoa Kỳ, điều ngược lại đang xảy ra: Các trường học có điều kiện khó khăn có các giáo viên trình độ kém hoặc ít kinh nghiệm hơn so với các trường có điều kiện tốt. Thay vào đó, nhiều quốc gia trong số này cố gắng giải quyết sự bất bình đẳng bằng cách tạo ra các lớp học nhỏ hơn hoặc tỷ lệ học sinh-giáo viên thấp hơn cho các trường có điều kiện tồi tệ.

To help poor students, countries should “assign high-quality teachers, and not just more teachers, to the most challenging schools,” said Andreas Schleicher, director of the OECD’s Education and Skills group. “Teacher policies have a critical role to play in delivering a future for millions who currently may struggle to have one.”

  • Để giúp các học sinh nghèo, các quốc gia nên “chỉ định các giáo viên chất lượng cao, và không chỉ nhiều giáo viên hơn, đến những trường khó khăn nhất,” Andreas Schleicher, giám đốc nhóm Giáo dục và Kỹ năng của OECD nói. “Các chính sách về giáo viên có vai trò quan trọng trong việc mang lại tương lai cho hàng triệu người hiện đang đấu tranh để có một ngôi trường.”

The OECD report examines the policies that help attract high-quality teachers and develop and retain them, as well as how to allocate them to different schools. High-performing systems—those which perform well on international tests—tend to treat teaching as a high-status profession for which one needs rigorous, ongoing training. It’s more competitive to become a teacher than a doctor in Finland; in Korea, teachers are paid very well compared to others with similar levels of education. And because of both financial incentives and government requirements, socio-economically disadvantaged students in Japan and Korea are at least as likely as their advantaged peers to be taught by the best teachers, as measured by factors like years of experience, certification, and, for science teachers, having a university degree with a major in science).

  • Báo cáo của OECD xem xét các chính sách giúp thu hút các giáo viên có chất lượng cao và phát triển và giữ họ lại, cũng như cách phân bổ họ cho các trường khác nhau. Các hệ thống có hiệu quả cao – những hệ thống thực hiện tốt các bài kiểm tra quốc tế – có khuynh hướng coi việc giảng dạy là nghề nghiệp có địa vị cao mà một người cần được đào tạo nghiêm ngặt, liên tục. Là cạnh tranh hơn để trở thành giáo viên hơn là một bác sĩ ở Phần Lan; ở Hàn Quốc, giáo viên được trả lương rất cao so với những người khác có trình độ học vấn tương tự. Và bởi vì cả những ưu đãi tài chính và yêu cầu của chính phủ, học sinh có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế xã hội ở Nhật Bản và Hàn Quốc ít nhất có thể được như những bạn học có điều kiện tốt của họ được giảng dạy bởi các giáo viên giỏi nhất, khi được đo bằng các yếu tố như số năm kinh nghiệm, chứng nhận và, đối với giáo viên khoa học, có bằng đại học với chuyên ngành về khoa học.

According to the report, there’s some overlap between the countries with the most-qualified teachers and those that perform the best on international tests:

Most qualified teachers Best scores on 2016 PISA (math)
Japan

Korea

Estonia

Slovenia

Chinese Taipei

Czech Republic

Switzerland

Germany

United States

Hungary

Singapore

Hong Kong (China)

Macao (China)

Chinese Taipei

Japan

B-S-J-G (China)

Korea

Switzerland

Estonia

Canada

  • Theo báo cáo này, có một số sự trùng lặp giữa các quốc gia với các giáo viên có trình độ cao nhất và những quốc gia thực hiện tốt nhất các bài kiểm tra quốc tế:
Các giáo viên có trình độ cao nhất                   Điểm số tốt nhất vào năm 2016 về PISA (toán học)
Nhật Bản

Hàn Quốc

Estonia

Slovenia

Trung Hoa Đài Bắc

Cộng hòa Séc

Thụy Sĩ

Đức

Hoa Kỳ

Hungary

Singapore

Hồng Kông (Trung Quốc)

Ma cao (Trung Quốc)

Đài Bắc Trung Quốc

Nhật Bản

Bắc Kinh-Thượng Hải-Giang Tô-Quảng Đông (Trung Quốc)

Hàn Quốc

Thụy Sĩ

Estonia

Canada


While many conversations about education reform still tend to focus on class size, many believe this is misplaced, including John Hattie, director of the Melbourne Education Research Institute at the University of Melbourne. Hattie has analyzed over 65,000 research papers to see what education interventions have the biggest effect on student performance. Class size is not one the significant ones; building better teachers and giving better feedback to students are.

  • Trong khi nhiều cuộc trò chuyện về cải cách giáo dục vẫn có xu hướng tập trung vào quy mô lớp học, nhiều người tin rằng điều này là không phù hợp, kể cả John Hattie, giám đốc Viện Nghiên cứu Giáo dục Melbourne tại Đại học Melbourne. Hattie đã phân tích hơn 65.000 tài liệu nghiên cứu để xem những can thiệp giáo dục nào có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu suất của học sinh. Quy mô lớp học không phải là một trong những thứ quan trọng; tạo ra các giáo viên giỏi hơn và đưa ra phản hồi tốt hơn cho các học sinh mới là những điều quan trọng.

Another misplaced hope is that more money will solve the problem. As Hanushek points out, school expenditures per student have more than doubled since 1970, while graduates’ achievement has remained mostly flat.

  • Một hy vọng không đúng khác là nhiều tiền hơn sẽ giải quyết được vấn đề. Như Hanushek chỉ ra, chi phí học cho mỗi học sinh đã tăng hơn gấp đôi kể từ năm 1970, trong khi thành tích của học sinh tốt nghiệp hầu như không thay đổi.

Countries that invest more in improving students’ academic performance can reap big benefits down the line. Hanushek also analyzed the impact of test scores on GDP growth and found it was huge. Using the example of Canada, which ranked ninth on the 2015 Program for International Student Assessment’s math tests (compared to the US’s paltry 39th place finish), he says that if the US were to close half the gap with Canada, it would “raise the average US gross domestic product 7 percent across the 21st century—more than enough to pay for projected fiscal problems with Medicare and Social Security benefits.”

  • Các quốc gia đầu tư nhiều hơn vào việc cải thiện thành tích học tập của học sinh có thể gặt hái những lợi ích lớn sau đó. Hanushek cũng phân tích tác động của điểm số bài kiểm tra lên sự tăng trưởng của GDP và thấy rằng nó rất lớn. Sử dụng ví dụ về Canada, quốc gia xếp hạng thứ chín trong bài kiểm tra toán học của Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế năm 2015 (so với sự kết thúc ở vị trí thứ 39 không đáng kể của Mỹ), ông nói rằng nếu Mỹ thu hẹp một nửa khoảng cách với Canada, điều đó sẽ “nâng tổng sản phẩm quốc nội trung bình của Mỹ lên 7% trong suốt thế kỷ 21 – quá đủ để chi trả cho các vấn đề tài chính dự kiến với chương trình Chăm sóc Y tế và An sinh Xã hội.”

The OECD report says the best-performing school systems had three things in common when it came to teachers: Most had a required and extended period of on-the-job training during which they received feedback and support from mentors in a formalized program; most professional development was in-house, rather than imported by experts; and teacher evaluation focused on useful feedback for improvement. Also, teachers felt valued in society.

  • Báo cáo của OECD cho biết các hệ thống trường học hoạt động tốt nhất ba điểm chung khi nói đến các giáo viên: Hầu hết các giáo viên đã có một khoảng thời gian đào tạo tại chỗ theo yêu cầu và kéo dài thêm trong thời gian đó họ đã nhận được các phản hồi và hỗ trợ từ những người cố vấn trong một chương trình chính thức; hầu hết sự phát triển về nghề nghiệp là ở nội bộ; thay vì nhập khẩu bằng các chuyên gia; và đánh giá giáo viên tập trung vào ý kiến phản hồi hữu ích để giúp cho việc cải thiện. Ngoài ra, giáo viên cũng cảm thấy có giá trị trong xã hội.

But the report was quick to note that policy matters. “Contrary to what is often assumed, high-performing systems do not enjoy a natural privilege simply due to a traditional respect for teachers; they have also built a high-quality teaching force as a result of deliberate policy choices, carefully implemented over time.”

  • Nhưng báo cáo nhanh chóng lưu ý về các vấn đề về chính sách. “Trái ngược với những gì thường được giả định, các hệ thống hiệu quả cao không được hưởng đặc quyền tự nhiên đơn giản là vì sự tôn trọng truyền thống đối với giáo viên; họ cũng đã xây dựng một lực lượng giảng dạy chất lượng cao như là kết quả của các lựa chọn của chính sách có chủ ý, được thực hiện một cách cẩn thận theo thời gian.”

Vocabulary highlight


       1. a month’s, a year’s, etc. worth of sth: (phr) – an amount of something that will last a month, a year, etc. or that takes a month, a year, etc. to do (một lượng của một cái gì đó sẽ kéo dài một tháng, một năm, vv hoặc phải mất một tháng, một năm, vv để làm)

Ví dụ:

  • We had only three days’ worth of food left.
    (Chúng tôi chỉ còn lại lương thực dùng cho ba ngày.)

       2. stand to benefit: (phr) – be likely to benefit (có khả năng hưởng lợi từ cái gì đó)

Ví dụ:

  • Unemployed people stand to benefit most from these policies.
    (Những người thất nghiệp có thể hưởng lợi nhiều nhất từ những chính sách này.)

       3. inequity: (n) – /ɪˈnek.wɪ.ti/ – lack of fairness, or something that is unfair (thiếu sự công bằng, hoặc điều gì đó không công bằng)

Ví dụ:

  • gender inequity in the classroom
    (sự bất bình đẳng giới trong lớp học)

       4. high-status: (adj) – ranking highly in a social or professional hierarchy (xếp hạng cao trong một hệ thống phân cấp xã hội hoặc nghề nghiệp)

Ví dụ:

  • The pharaohs of ancient Egypt were mummified with peppercorns in their nostrils, presumably to signify their high status in the afterlife.
    (Các pharaoh của Ai Cập cổ đại đã được ướp xác với hạt tiêu trong lỗ mũi của họ, có lẽ là để thể hiện địa vị cao của họ ở thế giới bên kia.)

       5. Incentive: (n) – /ɪnˈsen.t̬ɪv/ – something that encourages a person to do something (một cái gì đó khuyến khích một người làm một việc gì đó)

Ví dụ:

  • Bonus payments provide an incentive to work harder.
    (Các khoản tiền thưởng cung cấp một động lực để làm việc chăm chỉ hơn.)

       6. reap the benefit, reward, etc. : (phr) – to get something good as a result of your own actions (đạt được điều gì đó tốt nhờ hành động của chính bạn)

Ví dụ:

  • She studied every evening and reaped the benefit at exam time.
    (Cô ấy đã học mỗi buổi tối và gặt hái những lợi ích trong thời gian thi cử.)

       7. close the gap: (phr) – reduce a large difference between things or groups (giảm sự khác biệt giữa giữa các thứ hoặc các nhóm)

Ví dụ:

  • The policies are designed to close the gap between rich and poor.
    (Các chính sách được thiết kế để thu hẹp khoảng cách giữa người giàu và người nghèo.)

       8. have sth in common: (phr) –    to have the same interests, experiences, or other characteristics with someone or something (có cùng sở thích, trải nghiệm, hoặc các đặc điểm khác với ai đó hoặc cái gì đó)

Ví dụ:

  • The two games have much in common.
    (Hai trò chơi này có nhiều điểm chung.)

       9. on-the-job: (adj) – happening while you are at work (xảy ra trong khi bạn đang làm việc)

Ví dụ:

  • Many of those workers surely needed on-the-job training.
    (Nhiều người trong số những công nhân đó chắc chắn cần đào tạo tại chỗ.)

       10. in-house: (adj) – done, working, or happening inside a company or organization (được thực hiện, làm việc hoặc xảy ra bên trong một công ty hoặc tổ chức)

Ví dụ:

  • A lot of companies do in-house training.
    (Rất nhiều công ty thực hiện việc đào tạo nội bộ.)

Người dịch: Hải Nam

Premium IELTS sale còn 1.990.000VNĐ – Trọn bộ 13 lộ trình từ 0 – 8.0+


Đây là gì?

Premium Kit


Nguồn: QUARZT

June 18, 2018
IELTS Planet - Học IELTS online 2019