Một thủ đô mới được xây dựng từ đầu là một điều không thể tưởng tượng đối với các gia đình Hàn Quốc – Đọc báo cùng IP

adult-architecture-bar-373290


Sejong, South Korea

This five-year-old city, slated to be South Korea’s new administrative capital, has something in abundance that the rest of the country doesn’t—kids.

  • Sejong, Hàn Quốc
    Thành phố năm tuổi này – dự kiến sẽ trở thành thủ đô hành chính mới của Hàn Quốc, có cái gì đó phong phú mà phần còn lại của đất nước không có – đó là trẻ em.

For three years in a row, women in newly constructed Sejong (paywall) have had more children, on average, than anywhere else in the country. That’s no small feat at a time when Korea is battling a “birth strike,” with both births and marriages shrinking to all-time lows.

  • Trong ba năm liên tiếp, ở vùng Sejong mới được xây dựng (tường rào), trung bình phụ nữ có nhiều con hơn so với bất kì nơi nào khác trong nước. Đó không phải là một kỳ tích nhỏ vào thời điểm mà Hàn Quốc đang chiến đấu với một “cuộc đình công sinh”, với cả tỉ lệ sinh và hôn nhân giảm xuống mức thấp nhất mọi thời đại.

For Koreans who have aspirations of a quiet family life with children, Sejong is a prototype of what a city free of the stresses and high costs associated with marriage and child-rearing could look like. A columnist at Korean daily newspaper Joongang Ilbo imagined in a recent piece a place where the cost of education for children was low and after-work obligations were almost non-existent, and concluded that “a version of this utopia” existed in Sejong.

  • Đối với người Hàn Quốc, những người mong muốn có một cuộc sống gia đình yên ấm với con cái, Sejong là nguyên mẫu của thành phố không bị những căng thẳng và chi phí cao ảnh hưởng đến hôn nhân và việc nuôi dạy con. Một nhà báo tại nhật báo Hàn Quốc Joongang Ilbo gần đây đã tưởng tượng ra một nơi, một nơi mà chi phí giáo dục cho trẻ em thấp và các nghĩa vụ sau giờ làm gần như không tồn tại, và sau đó đi đến kết luận “một phiên bản của thành phố không tưởng này” tồn tại ở Sejong.

“Especially when it comes to time with family, Sejong city is like paradise,” said a 39-year-old mother-of-one surnamed Ahn, who works at the economy ministry. “I have female colleagues who only started going to parent-teacher meetings or their kids’ graduation ceremonies for the first time once they moved to Sejong.”

  • “Đặc biệt là khi nói đến thời gian với gia đình, thành phố Sejong giống như thiên đường”, một người mẹ 39 tuổi  họ Ahn, làm việc tại Bộ Kinh tế cho biết. “Tôi có các đồng nghiệp nữ chỉ mới bắt đầu tham dự các cuộc họp phụ huynh-giáo viên hoặc lễ tốt nghiệp của con cái họ lần đầu tiên khi họ chuyển đến Sejong.”

Baby-boom town

Most people would be hard-pressed to see Sejong as a utopia in any sense of the word at first glance.

  • Thị trấn của sự bùng nổ trẻ em
    Hầu hết mọi người sẽ rất khó có thể nhận ra Sejong là thành phố không tưởng như thế trong cái nhìn đầu tiên.

A less ambitious take on other capital cities built from scratch—such as Canberra or Brasilia—it consists of an eerily quiet and unattractive sprawl of government buildings, surrounded by the sorts of identical high-rise apartment blocks with manicured parks found across South Korean urban areas.

  • Là một thành phố tham vọng ít hơn so với các thành phố thủ đô khác được xây dựng từ đầu – như Canberra hay Brasilia – Sejong bao gồm một tòa nhà chính phủ yên tĩnh và kém hấp dẫn, được bao quanh bởi các khu chung cư cao tầng giống hệt nhau với những khu công viên được chăm sóc cẩn thận ở khu vực phía Nam Hàn Quốc.

Since Sejong Special Autonomous City came into being in 2012 as part of a decade-old plan to shift official functions out of Seoul, some 75 miles away, more people have been relocating from the capital to Sejong. Its population tripled to over 300,000 by the latest count. The goal is to have 500,000 people living in Sejong by 2030, easing the burden in the Seoul area, where half the country resides.

  • Kể từ khi Thành phố Tự trị Đặc biệt Sejong ra đời vào năm 2012 như một phần của một kế hoạch cũ kéo dài một thập kỷ để chuyển chức năng chính thức ra khỏi Seoul cách đó khoảng 75 dặm, nhiều người đã phải dời nhà từ thủ đô đến Sejong. Dân số tăng gấp ba lần lên hơn 300.000 người theo thống kê mới nhất. Mục tiêu là có 500.000 người sống ở Sejong vào năm 2030, giảm bớt gánh nặng ở khu vực Seoul, nơi một nửa đất nước cư trú.

On a recent stormy, weekday afternoon, the streets were mostly empty, but for a small perimeter in the city’s downtown area where pregnant women, mothers and grandmothers with children, and kids on bicycles and razor scooters crossed the streets, with no fear of traffic. Alongside the usual restaurants, coffee shops, and commercial buildings containing cram schools and other small businesses, a number of stores selling children’s clothing and toys were visible.

  • Vào một buổi chiều mùa hè gần đây, các con phố hầu như trống rỗng, ngoại trừ một khoảng nhỏ ở khu vực trung tâm thành phố nơi có phụ nữ mang thai, các bà mẹ và bà ngoại có con cháu, ở đó trẻ em đi xe đạp và xe tay ga vượt qua đường phố và bọn chúng không  hềsợ giao thông. Cùng với các nhà hàng thông thường, quán cà phê và các tòa nhà thương mại chứa các trường học nhồi nhét và các doanh nghiệp nhỏ khác, ta có thể thấy một số cửa hàng bán quần áo và đồ chơi cho trẻ em.

The high number of children in Sejong is no illusion. Last year, the city recorded a fertility rate of 1.67—a measure of the number of children a woman is expected to have in her lifetime—the highest level among 17 Korean provinces and cities. Meanwhile the national fertility rate hit an all-time low of 1.05—the lowest among OECD countries in 2015, the last year the organization made such data available. An average of 2.1 children is widely recognized as the rate needed for a population to remain stable.

  • Số lượng lớn trẻ em ở Sejong không phải là ảo. Năm ngoái, thành phố ghi nhận tỷ lệ sinh là 1,67 – một thước đo về số lượng trẻ em mà một người phụ nữ dự kiến có trong đời – mức cao nhất trong số 17 tỉnh và thành phố của Hàn Quốc. Trong khi đó tỷ lệ sinh của quốc gia đạt mức thấp nhất mọi thời đại là 1,05 – thấp nhất trong số các quốc gia OECD trong năm 2015, năm ngoái tổ chức đã cung cấp các dữ liệu đó. Trung bình 2,1 trẻ em là tỉ lệ cần thiết cho dân số ổn định và số liệu này được công nhận rộng rãi ở nhiều nơi.

Self-selection from couples about to start families moving to the city is likely a major factor. Lee Jae-kang, an official with the city’s policy planning bureau, said that many who decide to move to the city are newlyweds—the average age of the population there is 32.1 years old. The effect of local policies to encourage people to have children is also at play.

  • Việc các cặp vợ chồng tự lựa chọn đến sống ở thành phố này có thể là một yếu tố chính. Lee Jae-kang, một quan chức thuộc phòng hoạch định chính sách của thành phố nói rằng nhiều người quyết định chuyển đến thành phố là các cặp đôi mới cưới — tuổi trung bình của dân số là 32,1 tuổi. Hiệu lực của chính sách địa phương để khuyến khích mọi người có con cũng được thực thi.

Many are drawn to the cheaper cost of living, green spaces, and a professional life where clocking off means going home to one’s family without the ritual of post-work drinking with colleagues that is indispensable to Korean work culture. Here, socializing is centered around family.

  • Nhiều người bị hấp dẫn với chi phí sinh hoạt rẻ hơn, không gian xanh và cuộc sống chuyên nghiệp, nơi mà khi hết giờ làm việc có nghĩa là về nhà với gia đình và họ tuyệt đối không uống rượu với đồng nghiệp sau giờ làm việc dù đây là “nghi thức” không thể thiếu đối với văn hóa làm việc của Hàn Quốc. Ở đây, xã hội hóa tập trung xung quanh gia đình.

Another government worker, a 40-year-old mother of an eight-year-old boy, noted that when she goes out on weekends with her family, “It’s like everyone is a couple around my age with kids around my son’s age. It feels a bit unnatural, somehow.”

  • Một nhân viên chính phủ khác, một người mẹ 40 tuổi của một cậu bé tám tuổi, để ý được khi đi ra ngoài vào cuối tuần với gia đình, “Cứ như mọi người là một cặp vợ chồng ở độ tuổi của tôi với những đứa trẻ trong độ tuổi của con trai tôi. Bằng cách nào đó, tôi cảm thấy hơi không tự nhiên.”

Happy mom

The crowning glory of Sejong’s policies, however, is its proud focus on the well-being of new moms.

  • Người mẹ hạnh phúc
    Tuy nhiên, sự thành công đỉnh cao của các chính sách của Sejong là tự hào tập trung vào sự phát triển của các bà mẹ mới.

Ju Myung-hee, a 35-year-old mother of three, was looking after her eight-month-old baby and attending a baby massage class at the city’s main government-run facility for new mothers, called Happy Mom Center. She relocated to Sejong from a neighboring city a year ago after her husband got a job there as a policeman. Life was a “bit lonely” at the beginning in Sejong, but she says she’s now made good friends through the center.

  • Ju Myung-hee, một bà mẹ 35 tuổi, đang chăm sóc đứa bé tám tháng tuổi của mình và cùng lúc tham dự một lớp massage cho trẻ em tại cơ sở chính phủ của thành phố dành cho các bà mẹ mới, được gọi là Trung tâm của những Người mẹ Hạnh phúc. Cô chuyển đến Sejong từ một thành phố lân cận cách đây một năm sau khi chồng cô có một công việc ở đó với tư cách cảnh sát. Cuộc sống có một chút cô đơn khi bắt đầu sống ở Sejong, nhưng cô nói rằng bây giờ cô đã có nhiều bạn qua trung tâm.

Lee, the Sejong government official, said that the Happy Mom Center was the first of its kind in Korea. Opened in October, it provides a range of mental and physical support services for pre- and post-natal needs, and offers services for fathers too, such as cooking classes. “When we planned this city we expected an influx of young families, with the possibility of a high birth rate, so we established this facility to care for their needs,” he said.

  • Lee, quan chức chính phủ Sejong, nói rằng Trung tâm của những người mẹ Hạnh phúc là loại hình đầu tiên ở Hàn Quốc. Khai trương vào tháng 10, nó cung cấp một loạt các dịch vụ hỗ trợ tinh thần và thể chất cho các nhu cầu trước và sau sinh, và cung cấp các dịch vụ cho người bố cũng như các lớp học nấu ăn. Ông nói: “Khi chúng tôi lên kế hoạch cho thành phố này, chúng tôi dự kiến sự xuất hiện của một loạt các gia đình trẻ, với tỉ lệ sinh cao, vì vậy chúng tôi đã thành lập cơ sở này để phục vụ cho nhu cầu của họ”

Since 2016, Sejong’s government started offering other maternity care services (link in Korean), such as assigning a caregiver to support new moms for 10 days after birth at a heavily subsidized rate, which includes childcare assistance and food preparation. The city also provides classes on lactation and childcare. In addition to the central Happy Mom facility, each apartment complex also has its own daycare center.

  • Kể từ năm 2016, chính phủ Sejong bắt đầu cung cấp các dịch vụ chăm sóc thai sản khác (link bằng tiếng Hàn), chẳng hạn như chỉ định một người chăm sóc để hỗ trợ các bà mẹ mới trong 10 ngày sau khi sinh với mức trợ cấp rất lớn, bao gồm hỗ trợ chăm sóc trẻ em và chuẩn bị thức ăn. Thành phố cũng mở các lớp về cho con bú và chăm sóc trẻ. Ngoài cơ sở Trung tâm của những người Mẹ Hạnh phúc, mỗi căn hộ cũng có trung tâm chăm sóc riêng vào ban ngày.

There’s another major incentive for people to have children—cash. Sejong city awards 1.2 million won ($1,110) for every couple for each child they have, a substantially more generous allowance compared to other local governments in Korea even as more are increasing (link in Korean) cash awards to get more people to have even a first child. Jongno district in Seoul, for example, gives 200,000 won for the first child—a new policy to be implemented in July—and 1 million won and 2 million won for the second and third child, respectively.

  • Có một ưu đãi lớn nữa để mọi người có con là tiền mặt. Thành phố Sejong trao 1,2 triệu won (1,110 đô la) cho mỗi cặp vợ chồng cho mỗi đứa trẻ mà họ có, một khoản trợ cấp lớn hơn nhiều so với các chính quyền địa phương khác ở Hàn Quốc, thậm chí khoản trợ cấp này ngày càng tăng (link bằng tiếng Hàn) cho đứa trẻ đầu tiên. Ví dụ, quận Jongno ở Seoul tặng 200.000 won cho đứa trẻ đầu tiên — một chính sách mới sẽ được thực hiện trong tháng 7 — và tương ứng là 1 triệu won và 2 triệu won cho đứa con thứ hai và thứ ba.

Still, Sejong isn’t to everyone’s taste. A working mother-of-two in Seoul surnamed Bae, whose husband works at the finance ministry, said her family rejected an offer to move there despite Sejong’s reputation as a child-friendly city. The 42-year-old expressed concerns about the quality of schools and after-school tutoring centers in Sejong compared to Seoul. Another option the family considered was to have the father commute to and from Seoul and Sejong while she stayed in Seoul with the child—a common arrangement for Korean families—but that would’ve been hard since she works too. Like Bae, other government workers have also cited not wanting to be split apart from their families as a reason not to relocate to Sejong.

  • Tuy nhiên, Sejong không phải là “khẩu vị” của tất cả mọi người. Một người mẹ làm việc ở Seoul họ Bae, chồng của cô làm việc tại bộ tài chính, cho biết gia đình cô đã từ chối lời đề nghị chuyển đến đó mặc dù Sejong nổi tiếng là một thành phố thân thiện với trẻ em. Người phụ nữ 42 tuổi bày tỏ lo ngại về chất lượng trường học và các trung tâm dạy kèm sau giờ học ở Sejong so với Seoul. Một lựa chọn khác mà gia đình cô có thể cân nhắc là người cha sẽ thường xuyên di chuyển giữa Seoul và Sejong để làm việc và cô  Bae sẽ ở lại Seoul với con — tình hình chung cho các gia đình Hàn Quốc – nhưng điều đó cũng khó khăn vì cô ấy cũng làm việc. Giống như Bae, các nhân viên chính phủ khác cũng cho rằng việc không muốn tách rời khỏi gia đình của họ là một lý do họ không chuyển đến Sejong.

But Sejong’s reputation for liveability, said Lee, the government official, is growing among even Koreans who don’t work in government jobs. Lee So-jeong, another mother of three who was attending a flower-tea-making class at the Happy Mom Center with her baby, moved to Sejong from a nearby city. Neither she nor her husband are public-sector workers.

  • Ông Lee, quan chức chính phủ nói rằng, danh tiếng của Sejong về sự sống động đang tác động ngày càng lớn tới những người Hàn Quốc không hoạt động trong các tổ chức chính phủ. Lee So-jeong, một bà mẹ ba con đã tham dự một lớp học làm hoa trà tại Trung tâm của những người mẹ hạnh phúc, đã chuyển đến Sejong từ một thành phố gần đó. Cả bà và chồng bà đều không phải là nhân viên khu vực công.

“Where I used to live, when I stepped out of my apartment block it was just a parking lot,” said the 33-year-old, lauding Sejong’s relative greenness. In her new life, packed with activities with other new moms and her family, she said “there’s no time to be bored.”

  • “Nơi tôi từng sống, khi tôi bước ra khỏi căn hộ của tôi, nó chỉ là một bãi đậu xe,” người phụ nữ 33 tuổi tán dương sự thân thiện của Sejong. Trong cuộc sống mới của mình, các hoạt động với những bà mẹ mới và gia đình khác, cô ấy nói “không có thời gian để cảm thấy buồn chán.”

Vocabulary highlight:


       1. administrative (adj) – /ədˈmɪnɪstrətɪv/: connected with organizing the work of a business or an institution (kết nối với tổ chức công việc của một doanh nghiệp hoặc một tổ chức)

Ví dụ:

  • He has an administrative job.
    (Anh ấy có một công việc hành chính.)

       2. aspirations (n) – /ˌæspəˈreɪʃn/: a strong desire to have or do something (một mong muốn mạnh mẽ để có hoặc làm điều gì đó

Ví dụ:

  • I didn’t realize you had political aspirations.
    (
    Tôi không nhận ra bạn có nguyện vọng chính trị.)

       3. prototype (n) – /ˈprəʊtətaɪp/: the first design of something from which other forms are copied or developed (thiết kế đầu tiên của một cái gì đó mà từ đó các hình thức khác được sao chép hoặc phát triển)

Ví dụ:

  • Scientists have developed a working prototype for a voice translation machine.
    (Các nhà khoa học đã phát triển một nguyên mẫu làm việc cho một máy dịch tiếng nói.)

       4. utopia (n) – /juːˈtəʊpiə/: an imaginary place or state in which everything is perfect (một nơi hoặc trạng thái tưởng tượng trong đó mọi thứ hoàn hảo)

Ví dụ:

  • This city is utopia.
    (Thành phố này thật hoàn hảo)

       5. scooter (n) – /ˈskuːtə(r)/: a light motorcycle, usually with small wheels and a curved metal cover at the front to protect the rider’s legs (một chiếc xe máy hạng nhẹ, thường có bánh xe nhỏ và vỏ kim loại cong ở phía trước để bảo vệ chân của người lái)

Ví dụ:

  • He gave me a ride on his scooter.
    (Anh ấy đã chở tôi đi bằng chiếc xe tay ga của mình.)

       6. manicured (adj) – /ˈmænɪkjʊəd/: very neat and well cared for (rất gọn gàng và được chăm sóc tốt)

Ví dụ:

  • This family has a manicured garden.
    (Gia đình này có một khu vườn được cắt tỉa cẩn thận.)

       7. newlywed (adj) – /ˈnjuːli wed/: recently married (mới cưới gần đây)

Ví dụ:

  • They are the newly-wed couple.
    (Họ là cặp đôi mới cưới.)

       8. indispensable (adj) – /ˌɪndɪˈspensəbl/: too important to be without (quá quan trọng đến nỗi không thể không có)

Ví dụ:

  • Cars have become an indispensable part of our lives.
    (Ô tô đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta.)

       9. incentive (n) – /ɪnˈsentɪv/: something that encourages you to do something (một thứ gì đó khuyến khích bạn làm gì đó)

Ví dụ:

  • There is no incentive for people to save fuel.
    (Không có động cơ để mọi người tiết kiệm nhiên liệu.)

 10. subsidize (n)- /ˌrepjuˈteɪʃn/: to give money to somebody or an organization to help pay for something; to give a subsidy (cung cấp tiền cho ai đó hoặc một tổ chức để giúp trả tiền cho một cái gì đó; để trợ cấp)

Ví dụ:

  • The housing projects are subsidized by the government.
    (Các dự án nhà ở được trợ cấp bởi chính phủ.)

Người dịch: Hải Linh

Premium IELTS sale còn 1.990.000VNĐ – Trọn bộ 13 lộ trình từ 0 – 8.0+


Đây là gì?

Premium Kit


Nguồn: Quartz

June 25, 2018
IELTS Planet - Học IELTS online 2019