IELTS Planet - Học IELTS online, Luyện thi IELTS Online cùng Gia sư IELTS 8.0

Olivia Colman: Nỗi bức rứt của kẻ mang trên đầu chiếc vương miện – Đọc báo cùng IP

social


Olivia Colman is ascending to the throne twice: first as Queen Anne in “The Favourite,” and then as Queen Elizabeth II in “The Crown.

  • Olivia Cloman đã mang trên đầu chiếc vương miện hai lần: lần đầu là Nữ Hoàng Anne trong phim “The Favourite”, và sau đó là Nữ hoàng Elizabeth đệ Nhị trong phim “The Crown”

LONDON — Olivia Colman does not have a process. She is apologetic, since she understands that this makes for uninteresting conversation about the many fascinating characters she has played — most recently the imperious, needy, vulnerable, monstrous Queen Anne in Yorgos Lanthimos’s “The Favourite,” for which she is hotly tipped as a best actress Academy Award nominee.

  • LONDON – Olivia Colman không có một tiến trình cụ thể. Cô ấy cảm thấy hối hận, vì cô hiểu điều này sẽ makes for cuộc trò chuyện về những nhân vật tuyệt vời cô đã đóng trở nên không thú vị – và gần đây nhất vai của cô là một Nữ Hoàng Anne độc đoán, thiếu thốn tình cảm, dễ bị tổn thương, quái dị trong Yorgos Lanthimos’s “The Favourite”, phim cô ấy đã được đề cử giải hàn lâm cho giải nữ diễn viên xuất sắc nhất.  

“I’m really sorry,” she said, squirming slightly, during a recent interview at a London hotel. “Let me think.” She brightened up. “I ate a lot to put on weight,” she said. “Does that count?”

  • Tôi thật sự xin lỗi”, cô ấy cựa nguậy nhẹ nhàng trong cuộc phỏng vấn gần đây tại khách sạn London. “Để tôi suy nghĩ .” Mặt cô ấy sáng bừng lên “ Tôi ăn rất nhiều để tăng cân,”Nó có được tính hay không?” Cô ấy nói.

Colman, 44, is unshowily famous in her native Britain, where she is known both as a comedy stalwart (“Peep Show”) and as a forceful dramatic actor (“Tyrannosaur”). She is fairly often described as a national treasure, so there was general rejoicing when it was announced that Colman would take over the role of Queen Elizabeth II from Claire Foy in coming seasons of the Netflix series “The Crown.”

  • Colman, 44 tuổi, cô ấy nổi tiếng không phô trương với người Anh bản địa, nơi cô được biết đến với vai trò là một diễn viên hài kịch trong “Peep Show” và một diễn viên kịch mạnh mẽ “Tyrannosaur”. Cô ấy thường được miêu tả một cách công bằng là một “vật báu quốc gia”, nên khi cô được công báo sẽ đảm nhận vai Nữ Hoàng Elizabeth đệ Nhị trong mùa mới của phim “The Crown” trên đài Netflix thì khán giả phản ứng rất tích cực.

Until now, she has been relatively unknown in the United States (although connoisseurs of prestige British television will know her from “Broadchurch” and “The Night Manager”). As she points out, she has never been the type to be cast in glossy leading lady roles. But “The Favourite,” which premieres Nov. 23, bagged the Silver Lion Grand Jury prize at the Venice Film Festival, won Colman the best actress award and has already garnered serious Oscar chatter, dragging her squarely into the spotlight even before her coming star turn in “The Crown.”

  • Đến nay, cô ấy vẫn khá vô danh ở Mỹ ( mặc dù nhiều mọt phim của đài truyền hình uy tín Anh vẫn biết đến cô qua “Broadchurch” và “The Night Manager”. Như cô chỉ ra, cô chưa bao giờ là kiểu người được chọn diễn các vai nữ chính hào nhoáng. Nhưng “The Favorite” được công chiếu vào ngày 23 tháng 11, đã thắng được giải Đặc biệt của giám khảo tại liên hoan phim Venice, Colman thắng giải nữ diễn viên xuất sắc nhất và đã thu hút rất nhiều cuộc tranh luận nghiêm túc về giải Oscar, biến cô thành tiêu điểm  trước khi vai diễn của cô trong phim “The Crown” được lên sàn.

The spotlight is not where she likes to be. “I hate the loss of anonymity,” she said. “No one teaches you how to deal with that. I now just tend to stay home because it’s so weird not to be on an equal footing with people. They know your face, and you don’t know them.”

  • Và tiêu điểm không phải thứ cô muốn trở thành. “ Tôi ghét sự nặc danh của mình biến mất. Không ai dạy bạn cách để đối phó với nó. Tôi bây giờ chỉ thường ở nhà bởi vì điều tôi không thuộc chung tầng lớp của mọi người thật kỳ lạ. Họ biết bạn nhưng bạn lại không biết họ.”  

“It’s not that people aren’t lovely,” she added, “but it’s harder to deal with than you imagine.”

  • Mọi người không phải không dễ mến,” cô ấy thêm vào, “ nhưng nó khó đối phó hơn bạn tưởng tượng.”

Colman is the most ordinary extraordinary person you have ever met. She is smiley, charming, apologizes frequently and plays down her talents at every opportunity. Her colleagues trip over their words trying to find enough adjectives to describe her likability, decency, kindness, her friendliness to the entire crew on any shoot, her lack of diva-dom. After several attempts at describing how much she adored Colman, Emma Stone — one of her co-stars in “The Favourite” — gave up. “You can tell I’m in love with her,” she said. Rachel Weisz, her other co-star, described her as “a proper delight — and with a very filthy sense of humor.”

  • Colman là người bình thường nhưng phi thường nhất mà bạn từng gặp. Cô hay mỉm cười, quyến rũ, thường xuyên xin lỗi và hạ thấp tài năng của mình khi có cơ hội. Đồng nghiệp của lục trong vốn từ của họ, cố gắng tìm đủ tính từ để miêu tả cái sự dễ mến, đoan trang, tử tế, thân thiện đến nhân viên trong bất kỳ buổi quay nào, sự thiếu “chảnh” của một người nổi tiếng. Sau vài lần cố gắng miêu tả Emma Stone yêu thích Colman đến mức nào, Emma – một trong những sao đóng chung phim “The Favourite” – từ bỏ. “ Bạn có thể nhận ra rằng tôi đang yêu cô ấy”, Emma nói. Rachel Weisz, một đồng nghiệp khác, miêu tả cô ấy là một niềm vui đúng nghĩa – và một sự hài hước khá bẩn bựa.

But Colman has no trouble being less than lovable on screen. In Paddy Considine’s “Tyrannosaur,” she played a meekly religious, abused wife; in “Fleabag” a hilariously poisonous stepmother; in “Run,” a tough-as-nails inner city mother; in “Broadchurch” she was an often tearful, often irritable, willfully unglamorous police officer.

  • Nhưng Colman gặp phải rắc rối là cô ấy trở nên ít đáng yêu hơn khi cô lên màn ảnh. Trong “Tyrannosaur” của Paddy Considine, cô đóng vai một bà vợ khiêm nhường, ngoan đạo, bị bạo hành; trong “Fleabag” một bà mẹ kế độc ác một cách tức cười; trong “Run” một người mẹ nội thành cứng như thép; trong “Broadchurch” cô là một sỹ quan cảnh sát mau nước mắt, thỉnh thoảng cáu kỉnh, cố ý trở nên không quyến rũ.

She also seems to have little vanity about how she is perceived. For the role of Queen Anne, where she is frequently shown in deliberately unflattering scenes, she put on 35 pounds without a murmur.

  • Cô ấy cũng tỏ ra rằng cô ấy ít quan tâm tới niềm kiêu hãnh của mình trong cái cách người khác nhìn nhận. Trong vai nữ hoàng Anne, cô ấy thường được miêu tả với những cảnh quay không tâng bốc một cách có chủ đích, cô ấy lên 35 cân mà không một lời phàn nàn.

“I much prefer these sorts of roles because there is no pressure to be something you are not, and I am obviously not glamorous,” Colman said. (In fact, in the wake of a photo shoot, she did look glamorous, dressed in a belted black dress, high heels and long earrings. “I’m more a jeans and sweater-with-something-spilled-on-it person,” she said as she arrived.)

  • “ Tôi thích những vai diễn này hơn bởi vì không có áp lực để khi phải thể hiện con người mà bạn không phải, và tôi đương nhiên không phải một con người hào nhoáng,” Colman nói. ( Thực ra, trong một buổi chụp hình, cô ấy trông rất lộng lẫy, mặc một chiếc đầm có dây nịt đen, giày cao gót và đôi bông tai dài. “ Tôi là người thiêng về mặc quần jean và áo len với một cái gì đổ lên đó hơn”, cô ấy nói ngay khi cô ấy tới nơi.

“For Anne, I wasn’t meant to look nice or be nice, and it was liberating and brilliant,” she said. “I find it more embarrassing to try to look good. I think I’ve been fortunate to be cast in these roles, because it’s very difficult for young women or men who are seen in one way, and then they are not allowed to age.”

  • “Khi vào vai Anne, tôi không cần phải trông thật đẹp hay dễ chịu, và nó là một điều rất thông minh và khiến tôi cảm thấy mình được giải phóng,” cô nói. “ Tôi cảm thấy xấu hổ hơn khi muốn bản thân mình trông đẹp mắt. Tôi nghĩ tôi đã quá may mắn để được diễn những vai này, bởi vì rất khó cho những phụ nữ hay đàn ông được gắn với một phong cách trẻ trung và sau đó họ không được già đi.”

In “The Favourite,” Colman’s Anne is jowly, lumbering and capricious; a willful child-woman who screams for attention and vulnerably displays her chronic insecurity and the deep unhappiness occasioned by losing 17 children to miscarriages, stillbirth and childhood death. Anne ruled from 1702-14, during a turbulent period that saw the incorporation of Scotland and England into the single state known as Great Britain, and the country’s long involvement in the War of the Spanish Succession. But the movie focuses on politics only to the extent that they influence the stratagems of the Duchess of Marlborough (Weisz) and her cousin Abigail Hill (Stone) as they scheme for the favors (all of them) of the Queen.

  • Trong “The Favourite,” Colman’s Anne là một người nhút nhát, ụch ịch và thất thường; một người đàn bà cố ý như một đứa trẻ; người dám la lớn để gây chú ý và yếu đuối phô bày sự thiếu an toàn ám ảnh lấy bà và nỗi đau đớn sâu thẩm khi bà mất đi 17 đứa con vì sẩy thai, chết trong tử cung và chết khi còn nhỏ. Anne trị vì từ 1702 – 14, trong một thời kỳ hỗn loạn khi Scotland và Anh không hợp tác trong việc sáp nhập thành một nước duy nhất gọi là Vương Quốc Anh, và sự nhúng tay của đất nước vào cuộc chiến tranh Kế vị của Tây Ban Nha. Nhưng phim chỉ chủ yếu tập trung vào tình hình chính trị mà nó ảnh hưởng lên chiến lược của Công nương xứ Marlborough (Weisz) và người chị của bà Abigail Hill (Stone) khi họ lên kế hoạch phục vụ ( tất cả bọn họ) Nữ Hoàng.  

In a telephone interview, Lanthimos said that after seeing Colman’s performance in “Tyrannosaur” and working with her on “The Lobster,” he couldn’t think of anyone else to play Anne, and had shifted the schedule to accommodate her.

  • Trong một buổi phỏng vấn trên điện thoại, Lanthimos nói rằng sau khi xem phần trình diễn của Colman trong “Tyrannosaur” và làm việc với cô trong vở “The Lobster”, ông không thể nghĩ ra ai khác có thể đóng vai Anne và đã thay đổi cả lịch trình để phù hợp với lịch trình của cô ấy.

“I don’t think I would have made the film without her,” he said. “That role is quite difficult, quite complex. It needed a lot of different qualities from an actor, the ability to alternate between different states at different times. It has a lot to do with instinct. She reads the lines and goes to the right place without thinking about it too much.”

  • “Tôi không nghĩ tôi có thể làm ra bộ phim nếu thiếu cô ấy,” ông ta nói.” Vai diễn đó khá khó, khá phức tạp. Nó đòi hỏi nhiều phẩm chất từ một diễn viên, khả năng chuyển đổi cảm xúc khác nhau trong những thời gian khác nhau. Nó đòi hỏi rất nhiều ở bản năng. Cô ấy đọc lời thoại và nhập vào nhân vật mà không cần suy nghĩ về nó quá nhiều.”

Colman says she doesn’t think about it at all. She hates rehearsal periods when actors and directors break down the script and motivation. “For me, when I really love a script, it’s visceral,” she said. “I can’t explain why, but I feel it; I want to say those words, be that person.”

  • Colman nói rằng cô không suy nghĩ gì về nó cả. Cô ghét những buổi tập dợt khi diễn viên và đạo diễn giảng giải ra lời thoại và mục đích của chúng. “ Đối với tôi, khi thật sự thích một kịch bản thì nó thuộc về nội tại,” cô ấy nói. “Tôi không thể giải thích tại sao, nhưng tôi có thể cảm thấy nó; tôi muốn nói ra những từ đó, trở thành con người đó.”

Growing up in the city of Norwich, in the east of England, Colman said she dreamed of being an actor from a young age, but “it was a secret dream, like talking to animals.” Instead, she went to teacher training college in Cambridge, where she successfully auditioned for Footlights, an amateur dramatic club run by Cambridge University. There she met her future husband, Ed Sinclair (with whom she has three children), and followed him a year later to the Bristol Old Vic drama school.

  • Lớn lên ở thành phố Norwich, ở phía đông của nước Anh, Colman nói rằng cô đã mơ về việc trở thành một diễn viên từ khi còn rất nhỏ, nhưng “nó là một ước mơ bí mật, như nói chuyện với thú vật.” Thay vào đó, cô đến một trung tâm đào tạo giáo viên ở Cambridge, nơi cô đậu vào Footlights, một câu lạc bộ kịch nghiệp dư được vận hành bởi đại học Cambridge. Nơi đó cô gặp người chồng tương lai của mình, Ed Sinclair ( người mà cô có cùng 3 đứa con), và theo anh đến trường kịch nghệ Bristol Old Vic một năm sau đó.

After graduating in 1999 she went to countless auditions and didn’t get a single job for a year. “My mum had said, ‘You’ll probably give it a year.’ And I said, ‘No, I’ll give it 10 years,’” Colman said, betraying a smattering of steely resolve. A trickle of bit parts followed. She worked as a secretary — “not a very good one, although I was cheery” — and a cleaner. Although discouraged, she never thought of giving up. “I never wanted to do anything else,” she said. Then with sincere Colmanesque self-deprecation: “Also, I’m no good at anything else.”

  • Sau khi tốt nghiệp năm 1999, cô đến hàng chục buổi thử vai nhưng không thể tìm nổi một công việc trong một năm liền. “Mẹ tôi từng nói, ‘ Con chắc sẽ chịu được trong 1 năm’, và tôi nói ‘ Không, con sẽ cho nó 10 năm,” Colman nói, phản lại hiểu biết nông cạn của một quyết tâm cứng nhắc. Thời gian từng chút một trôi qua. Cô ấy trở thành thư ký – “ không phải một công việc tốt mặc dù tôi cũng rất lạc quan khi đó” – và người dọn dẹp. Mặc cảm giác thất vọng, cô chưa từng nghĩ mình sẽ từ bỏ. “ Tôi không bao giờ muốn làm thứ khác”, cô nói. Theo sau đó là một lời tự khẩn cầu đầy thành thật của cô :” Thêm nữa, tôi chẳng giỏi cái gì khác.”

Her breakthrough came in 2003, when David Mitchell and Robert Webb, fellow actors at Footlights, asked her to play a central role in “Peep Show,” a series that developed a cult following over nine seasons. Her talent for deadpan comedy didn’t go unnoticed, and Colman began to pick up bigger roles, mostly in sitcoms and comedies.

  • Bước ngoặt của cô là vào năm 2003, khi David Mitchell và Robert Webb, những người bạn diễn ở Footlights, mời cô làm diễn viên trung tâm cho “Peep Show”, một tuyển tập lấy ý tưởng từ một đạo phái được phát triển đến 9 mùa. Tài năng của cô trong kịch theo trường phái vô cảm không trở nên phí hoài, và Colman bắt đầu được đóng các vai lớn hơn, hầu hết là phim dài tập và hài kịch.

Tyrannosaur,” the first feature film directed by Mr. Considine, an actor, changed everything for Colman, who was cast as a physically and psychologically abused wife who forms an unlikely friendship with a violent widower. “I always wanted to do these kinds of dramatic roles, and I always knew that no one saw me that way,” Colman said. “Good old Paddy.”

  • “Tyrannosaur,” phim truyện dài tập được chỉ đạo bởi ông Considine, một diễn viên, đã thay đổi Colman hoàn toàn. Colman được nhận vào vai một người vợ bị bạo hành lẫn tâm thần và thể xác đã hình thành một tình bạn kỳ lạ với một góa phụ bạo lực. “Tôi luôn muốn đóng những vai kịch tính như thế này, và tôi luôn biết rằng không ai nhìn tôi với hình ảnh đó,” Colman nói. “ Một Paddy dễ mến ngày xưa”.

That led to “Broadchurch,” and the role of Detective Sergeant Ellie Miller, one of the lead investigators (alongside David Tennant’s Detective Inspector Hardy) in a search for the killer of an 11-year-old boy. The series was a huge success in Britain and abroad, and even though Tennant was the bigger name, Coleman’s portrayal of a woman enduring the harrowing personal consequences of the investigation made the series hers.

  • Vai diễn đó dẫn đến “Broadchurch,” và vai diễn thám tử trung sĩ Ellie Miller, một trong những nhà điều tra đứng đầu ( bên cạnh thanh tra thám tử Hardy được đóng bởi David Tennant) trong một cuộc truy lùng hung thủ giết đứa trẻ 11 tuổi. Tuyển tập phim là một thành công lớn ở Anh và ở nước ngoài, mặc dù Tennant là một tên tuổi lớn, hình ảnh Coleman phác họa một người phụ nữ chịu đựng những hậu quả cá nhân bi thảm của cuộc điều tra làm cho tuyển tập phim trở thành của riêng cô.  

Jodie Whittaker (“Doctor Who”), who played the bereaved mother Beth, Ellie’s best friend, said that Colman was “one of the only actors who can make you laugh and cry at the same time.”

  • Jodie Whittaker (“Doctor Who”) người đóng vai người mẹ bị mất con Beth, bạn thân của Ellie nói rằng Colman là “ một trong những diễn viên có thể làm bạn vừa cười vừa khóc.

“She brings such humor and vulnerability and playfulness to everything,” she said.

Colman has subsequently starred in several large-scale projects, notably “The Night Manager” (for which she won a Golden Globe) and the coming BBC production of “Les Misérables.” But the call from “The Crown” still came as a shock, she said.

  • “Cô ấy mang đến nhiều niềm vui và sự dễ tổn thương và sự tinh nghịch với mọi thứ,” cô ấy nói. Sau đó Colman đã tham gia những dự án quy mô lớn, đáng chú ý là “Người Quản Lý Đêm Khuya” ( phim giúp cô dành giải Cầu Vàng) và trở thành nhà sản xuất “Những người cùng khổ” sắp tới của BBC. Nhưng tiếng vang của phim “The Crown” vẫn đến như một cơn sốc, cô nói.

“I was such a massive fan of the show, and I thought Claire Foy was just breathtaking,” she said. “I no idea they were going to recast for season 3 and 4, so hadn’t thought about the role at all.” She did an imitation of her agent calling her and trying to be discreet while she shrieked “the Queen?!” with her phone on loudspeaker.

  • “Tôi đã là một người hâm mộ rất lớn của chương trình, và tôi nghĩ Claire Foy chỉ quá lộng lẫy, cô nói. “Tôi thật sự không biết họ sẽ tìm diễn viên mới cho mùa 3,4 nên không nghĩ đến vai diễn tí nào.” Cô ấy giả làm đơn vị của cô gọi cô và cố gắng nhỏ nhẹ khi cô thét lên “Nữ Hoàng?!” với điện thoại đang để chế độ nghe lớn.

Remembering the first meeting with the producers, she laughed. “I was very uncool when I went to meet them,” she said. “I just said, ‘Oh yes please,’ and they were totally taken aback.” The role of the young queen brought Foy a Golden Globe and an Emmy, among other awards, and international fame. It was hard to imagine filling her shoes, Colman said; her solution is not to think about it and “just plow on.”

  • Nhớ lại ngày ngày gặp đầu tiên với nhà sản xuất, cô cười. “Tôi đã rất không “đẹp” khi tôi đến gặp họ”, cô nói. “Tôi chỉ nói,’ Ồ vâng làm ơn,’ và họ hoàn toàn sốc.” Vai diễn của một nữ hoàng trẻ đã đem lại cho Foy một quả Cầu Vàng và một giải Emmy, trong các giải thưởng khác, và sự nổi tiếng toàn thế giới. Rất khó để tưởng tượng mình sẽ thay thế cô ấy, Colman nói; cách giải quyết của cô ấy là không nghĩ về nó và “kệ luôn”.

But her no-process approach had to be modified here, she admitted. “The research department is a massive operation,” Colman explained. “I absorb best through watching videos, and I’ve spent hours and hours doing that.” She has also spent a great deal of time with voice coaches perfecting the queen’s voice and accent, and with a movement coach who has helped her master a particular posture and way of walking. “I walk a bit like a farmer, not a queen, and I’m not a very good physical impersonator,” Colman said. “So there is a dollop of artistic license.”

  • Nhưng cách thức “không cách thức” của cô ấy cần được chỉnh sửa lại ở đây, cô thừa nhận. “ Bộ phận nghiên cứu là một bộ phận rất lớn,” Colman giải thích. “Tôi hấp thu nhanh nhất thông qua xem các video, và tôi đã dành hàng giờ để làm điều đó.” Cô ấy cũng dành rất nhiều thời gian với huấn luyện viên luyện phát âm để làm hoàn hảo tiếng và giọng nói của nữ hoàng, và với một huấn luyện viên luyện cách chuyển động giúp cô thành thạo một dáng và cách nói chuyên biệt. “Tôi bước đi hơi giống nông dân, không phải một nữ hoàng, và tôi không giỏi về diễn xuất hình thể,” Colman nói. “Nên cần có rất nhiều bằng cấp về nghệt thuật”.

In 15 years Colman has moved from the broad comedy of “Peep Show” to the high seriousness of “The Crown,” and rumors of an Academy Award nomination for “The Favourite.” “I don’t know what to do with it,” she said. “Talking about the Oscars seems like a silly dream. If you wake up one day and it hasn’t happened, you’ll be cross for feeling disappointed.” Colman seems constitutionally wired for disappointment avoidance. “I still worry that I won’t have work,” she said, adding that she felt she should make hay before it all went to hell. (She used a stronger word than hell.)

  • Trong 15 năm Colman đã chuyển từ nghệ thuật đại chúng là “The Peep Show” sang những bộ phim với sự nghiêm túc hơn là “The Crown,” và tin đồn là được một đề cử cho giải thưởng Hàn Lâm cho phim “The Favourite” “Tôi không biết nên làm gì với nó”, cô ấy nói. “Nói về Oscar như một giấc mơ ngốc xít. Nếu tôi thức dậy vào một ngày mà nó không xảy ra, tôi sẽ bị bao trùm bởi cảm giác thất vọng mất.” Colman có vẻ bị lập trình để tránh khỏi thất vọng. “Tôi vẫn lo lắng rằng tôi không có việc làm,” cô nói, thêm vào rằng cô có thể nên làm ra một cái gì ra hồn trước khi mọi thứ rơi tuột xuống địa ngục. (Cô dùng từ mạnh hơn cả địa ngục nữa.)

Vocabulary Highlight


       1. squirm (v) /skwɜːm/ to move from side to side in an awkward way, sometimes because of nervousness, embarrassment, or pain: chuyển động từ bên này qua bên kia bằng một cách kỳ quặc bởi vì lo lắng, xấu hổ hoặc đau đớn

Ví dụ:

 

  • Nobody spoke for at least five minutes and Rachel squirmed in her chair with embarrassment.

 

(Không ai nói trong vòng ít nhất năm phút và Rachel cựa quậy trên ghế với vẻ xấu hổ.)


       2. garner (v)  /ˈɡɑː.nər/ to collect something, usually after much work or with difficulty: thu nhặt thứ gì đó, thường là sau khi làm việc vất vả hoặc khó khăn

Ví dụ:

 

  • Coppola garnered several Oscar awards for “The Godfather”.

 

(Copola thu được nhiều giải Oscar cho phim “Bố Già”)


       3. make for (phrasal verb)  to be one thing, or the most important thing, that causes something: là một thứ gì đó quan trọng làm cho điều gì xảy ra

Ví dụ:

 

  • Everyone agreed that filming inside a chocolate factory would make for good television.

 

(Mọi người đồng tình rằng quay phim trong một nhà máy socola sẽ làm một nhân tố tuyên truyền tốt.)


       4. vanity (n)  /ˈvæn.ə.ti/ the fact that you are too interested in your appearance or achievements: sự thật rằng bạn quá hứng thú với vẻ ngoài hoặc thành công của bạn.

Ví dụ:

 

  • He wants the job purely for reasons of vanity and ambition.

 

(Anh ta muốn công việc đó chỉ đơn giản vì phù phiếm và tham vọng.)


       5. visceral (adj)  /ˈvɪs.ər.əl/ based on deep feeling and emotional reactions rather than on reason or thought: dựa vào cảm xúc sâu thẳm và phản ứng cảm xúc hơn là một lý do hoặc suy nghĩ

Ví dụ:

 

  • His approach to acting is visceral rather than intellectual.

 

(Cách anh ta diễn xuất dựa nhiều vào cảm xúc hơn là lý trí.)


       6. deadpan  (adj) /ˈded.pæn/ looking or seeming serious when you are telling a joke: nhìn có vẻ nghiêm nghị khi đang kể chuyện cười

Ví dụ:

  • a deadpan expression/voice: một biểu cảm giọng nói nghiêm túc khi kể chuyện cười

       7. bereaved (adj) /bɪˈriːv/ to have a close relation or friend who has died: mất người thân hoặc một người bạn đã chết

Ví dụ:

 

  • Everyone who has been bereaved has to find his or her own way of coping.

 

(Những người bị mất người thân hay bạn bè phải tự tìm cách để đối mặt với nó.)


Người dịch: Mỹ An

Premium IELTS Sale còn 1.500.000VNĐ – Trọn bộ 13 lộ trình từ 0 – 8.0+


    Ghi rõ email hoặc sdt vào mục nội dung thanh toán (nếu có)

Đây là gì?

Premium Kit


Nguồn: thenytimes.com

January 1, 2019
IELTS Planet - Học IELTS online 2019